Điều 4. Hạn mức công nhận đất ở có vườn, ao liền kề:
1. Trường hợp thửa đất được hình thành trước 18/12/1980, trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai có ghi rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở theo quy định tại khoản 2, Điều 45, Nghị định 181/2004/NĐ-CP.
2. Trường hợp sử dụng đất từ 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành), người sử dụng đất có một trong những loại giấy tờ quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 50 Luật Đất đai mà trong giấy tờ có ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo quy định tại khoản 3, Điều 87 Luật Đất đai.
3. Trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến ngày 1 tháng 7 năm 2004 (ngày Luật Đất đai có hiệu lực thi hành) và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận như sau (theo quy định tại điểm a, khoản 4, Điều 87 Luật Đất đai;):
3.1 Đối với trường hợp đất thuộc các phường: Diện tích công nhận không quá 3 lần hạn mức giao mới nêu tại Điều 5 Quy định này;
3.2 Đối với các trường hợp đất thuộc các xã thuộc thành phố Pleiku, các xã thuộc thị xã An Khê và các đô thị được công nhận là đô thị loại 4: Diện tích công nhận không quá 3 lần hạn mức giao mới nêu tại Điều 5 Quy định này;
3.3 Đối với các thị trấn và các xã còn lại: Diện tích công nhận không quá 2 lần hạn mức giao mới nêu tại Điều 5 Quy định này.
4. Trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì diện tích đất ở có vườn, ao được xác định theo quy định tại khoản 5, Điều 87 Luật Đất đai.