Điều 17. Hỗ trợ khác (khoản 2 Điều 108 Luật Đất đai giao địa phương)
Ngoài việc hỗ trợ theo các quy định trên, để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất đối với người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản, UBND tỉnh quy định một số khoản hỗ trợ khác như sau:
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp (đất vườn, ao) trong cùng thửa đất ở có nhà ở nhưng chưa được công nhận là đất ở thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp đang sử dụng còn được hỗ trợ bằng 45% giá đất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tối đa không quá 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh tại khu vực đó. Đối với phần diện tích đất nông nghiệp (đất vườn, ao) vượt quá 05 lần hạn mức nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh thì được bồi thường, hỗ trợ theo chế độ đất nông nghiệp được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 Quy định này.
Đối với đất nông nghiệp (đất vườn, ao) có nguồn gốc tách ra từ thửa đất gắn liền với đất ở (thửa đất gốc có nhà ở) nhưng diện tích thửa đất sau khi tách ra, nếu cộng với diện tích còn lại của thửa đất gốc mà không vượt quá 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh thì được hỗ trợ bằng 45% giá đất ở của thửa đất đó. Trường hợp thửa đất tách ra thành nhiều thửa thì tính thứ tự ưu tiên đối với thửa đất có thời điểm tách ra hoàn thành thủ tục hành chính sớm hơn; trường hợp các thửa đất tách ra cùng một thời điểm thì được hỗ trợ theo tỷ lệ thuận diện tích của từng thửa đất tách ra.
2. Ngoài các khoản được bồi thường theo quy định tại Điều 7 Quy định này còn được hỗ trợ thêm một khoản tiền, cụ thể như sau:
Mồ mả (lăng, mộ) ngài tiền khai khẩn: Hỗ trợ 50.000.000 đồng/mộ (gồm: Mua quan tài, nghi lễ theo phong tục tập quán, rạp che thực hiện nghi lễ, nhạc lễ);
Mồ mả (lăng, mộ) ngài đầu họ, mộ ngài đầu phái, mộ ngài đầu chi: Hỗ trợ 25.000.000 đồng/mộ (gồm: Mua quan tài, nghi lễ theo phong tục tập quán, rạp che thực hiện nghi lễ, nhạc lễ);
Hỗ trợ chi phí tâm linh khi di dời mồ mả (không phải mộ ngài tiền khai khẩn, mộ ngài đầu họ, mộ ngài đầu phái, mộ ngài đầu chi) với mức 3.000.000 đồng/chủ thể, đối với trường hợp chủ thể đó bị ảnh hưởng 01 mộ; đối với trường hợp chủ thể có số lượng mộ bị ảnh hưởng từ 02 mộ trở lên, nếu cứ tăng thêm 01 mộ thì được hỗ trợ thêm 800.000 đồng/mộ (gồm lễ vật, cúng bái);
Đối với trường hợp di dời theo phong tục tập quán của người dân tộc thiểu số (rừng ma) thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đề xuất phương án hỗ trợ trình Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định.
3. Hộ gia đình khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở được hỗ trợ chi phí di chuyển như sau:
Đối với việc di chuyển nhà ở trong khuôn viên đất còn lại của hộ gia đình thì mức hỗ trợ di chuyển là 4.000.000 đồng/hộ;
Di chuyển nhà ở đến nơi ở mới trong phạm vi thuộc huyện, thị xã thì mức hỗ trợ là 5.000.000 đồng/hộ;
Di chuyển nhà ở đến nơi ở mới trong phạm vi thuộc thành phố; hoặc khác huyện, thị xã thì mức hỗ trợ là 6.000.000 đồng/hộ;
Di chuyển nhà ở đến nơi ở mới khác tỉnh nơi đang sinh sống hiện tại thì mức hỗ trợ là 7.000.000 đồng/hộ;
Các khoản hỗ trợ khác khi phải di chuyển nhà ở:
Hỗ trợ bắt lại điện chiếu sáng trong nhà: 3.000.000 đồng;
Hỗ trợ bắt lại đường ống cấp nước: 3.000.000 đồng (nếu có);
Hỗ trợ làm lại thiết kế bản vẽ nhà khi di chuyển đến chỗ ở mới cụ thể như sau:
Giá trị hỗ trợ = 2,92% x Giá trị xây dựng nhà x 0,88. Trong đó:
Hệ số tỷ lệ 2,92% lấy theo giá trị tại văn bản Công bố định mức chi phí tư vấn đầu tư xây dựng do Bộ Xây dựng ban hành;
Hệ số 0,88 là tỷ lệ của phần thiết kế trong tổng chi phí tư vấn sau khi đã bỏ phần lập dự toán chiếm 12% giá trị;
Giá trị xây dựng nhà: Là giá trị nhà được kiểm kê, áp giá bồi thường theo quy định.
4. Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều thế hệ hoặc có nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở bị thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng 01 thửa đất ở bị thu hồi mà diện tích đất ở được bồi thường không đủ để giao riêng cho từng hộ gia đình một lô đất thì được hỗ trợ để giao đất ở có thu tiền sử dụng đất đủ cho mỗi hộ một lô, diện tích không vượt quá hạn mức giao đất ở tại địa phương theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giá giao đất ở có thu tiền sử dụng đất được tính theo Bảng giá đất tại thời điểm có quyết định giao đất; việc hỗ trợ bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở thì Ủy ban nhân dân cấp huyện báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định đối với từng dự án cụ thể.
5. Hỗ trợ đất đắp san lấp mặt bằng làm đường vào nhà ở, quanh nền nhà (diện tích hỗ trợ không vượt quá diện tích xây dựng nhà ở) được tính hỗ trợ theo khối lượng thực tế bị ảnh hưởng (trừ đất đắp trong móng nhà).
6. Hỗ trợ việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi một phần thửa đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc được bố trí đất tái định cư, hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất được hỗ trợ thực hiện thủ tục cấp mới, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kinh phí thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đơn giá dịch vụ công quy định tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
7. Nhà ở, nhà và công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện bồi thường thì tùy theo mức độ, tính chất để xem xét hỗ trợ theo quy định sau:
a) Trường hợp công trình xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường về đất theo quy định hoặc nhà, công trình khác xây dựng trên đất được bồi thường về đất nhưng xây dựng không đúng mục đích sử dụng đất, xây dựng trước ngày 01/7/2014; quá trình tạo lập công trình không có văn bản xử lý, ngăn chặn của cấp có thẩm quyền thì được hỗ trợ bằng 70% mức bồi thường theo quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh.
Đối với tổ chức kinh tế (bao gồm cả tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) mà tài sản tạo lập trái phép trên thửa đất chưa được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích nhưng không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định thì không được bồi thường, hỗ trợ.
b) Nhà ở, nhà và công trình khác được tạo lập, xây dựng trái quy định kể từ ngày 01/7/2014 đến trước ngày Nhà nước có Thông báo thu hồi đất mà quá trình tạo lập công trình không có văn bản xử lý, ngăn chặn của cấp có thẩm quyền thì được hỗ trợ không quá 10% giá trị bồi thường của công trình.
Nhà ở, nhà và công trình khác xây dựng sau Thông báo chủ trương thu hồi đất thì không được hỗ trợ. Khi Nhà nước thu hồi đất phải tự tháo dỡ, nếu không tự tháo dỡ thì thực hiện cưỡng chế theo quy định.
8. Hỗ trợ tài sản là cây, hoa màu trồng trên đất không đủ điều kiện bồi thường:
Tài sản là cây, hoa màu trồng trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất trước thời điểm Thông báo thu hồi đất nhưng tại thời điểm tạo lập không bị lập biên bản xử lý vi phạm hành chính, khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án được hỗ trợ 100% theo đơn giá của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
9. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư tại khu vực đô thị khi Nhà nước thu hồi đất thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp đang sử dụng còn được hỗ trợ bằng 35% giá đất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tối đa không quá 05 lần hạn mức giao đất ở tại vị trí thu hồi theo đơn giá tại Bảng giá đất của Ủy ban nhân dân tỉnh.
10. Hỗ trợ móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà bị ảnh hưởng (bao gồm đất đắp trong móng nhà).
Nhà, ngoài việc được bồi thường theo đơn giá quy định còn được hỗ trợ thêm phần móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà bị ảnh hưởng; nếu kinh phí xây dựng phần móng chiếm khoảng 8,0÷12,0% so với kinh phí xây dựng toàn công trình thì mức hỗ trợ được xác định như sau:
Móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà từ 0,5 m đến 1,0 m, thì được hỗ trợ bằng 35% so với móng bị ảnh hưởng;
Móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà từ lớn hơn 1,0m đến 2,0m, thì được hỗ trợ bằng 85% so với móng bị ảnh hưởng;
Móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà từ lớn hơn 2,0 m đến 3,0 m thì được hỗ trợ bằng 150% so với móng bị ảnh hưởng;
Móng nhà có độ sâu so với cốt mặt đất hiện trạng xung quanh móng nhà từ lớn hơn 3,0 m trở lên, thì được hỗ trợ bằng 170% so với móng bị ảnh hưởng.
11. Ngoài các khoản hỗ trợ đã được quy định, trong trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định biện pháp, mức hỗ trợ khác để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất đối với người có đất thu hồi, chủ sở hữu tài sản cho từng dự án cụ thể.