Điều 6. Đánh giá ban đầu mức độ tổn hại của trẻ em; thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn tạm thời cho trẻ em trong trường hợp đặc biệt
1. Đánh giá ban đầu mức độ tổn hại của trẻ em
a) Ngay khi có kết quả xác thực về vụ việc:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền cấp “Giấy giới thiệu” cho cha, mẹ, người chăm sóc nuôi dưỡng để đưa trẻ em đến bệnh viện, cơ sở y tế trên địa bàn để được khám và điều trị khẩn cấp, xác định thương tích ban đầu của trẻ bị xâm hại để có hướng giải quyết, xử lý hành chính hoặc có văn bản kiến nghị khởi tố gửi cơ quan Công an cấp huyện nếu có dấu hiệu tội phạm.
Bệnh viện, cơ sở y tế có trách nhiệm tiếp nhận khám, điều trị khẩn cấp cho trẻ em; đồng thời, cử nhân viên Công tác xã hội hoặc chuyên viên tâm lý của bệnh viện thực hiện tư vấn, tham vấn cho trẻ em và gia đình trẻ em ổn định tâm lý.
Trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm tiếp nhận nạn nhân, bệnh viện, cơ sở y tế cung cấp thông tin bằng văn bản về kết quả khám, điều trị ban đầu của trẻ em cho Ủy ban nhân dân cấp xã (cơ quan cấp Giấy giới thiệu).
Trường hợp trẻ em có dấu hiệu bị bạo lực (hành hạ, ngược đãi, đánh đập), xâm hại, xâm hại tình dục thì bệnh viện, cơ sở y tế có trách nhiệm thông tin nhanh nội dung vụ việc đến Ủy ban nhân dân cấp xã, Công an cấp huyện và Thường trực Ban Chỉ đạo Bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp huyện (Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội). Việc cung cấp thông tin, cung cấp hồ sơ phải đảm bảo chế độ “mật” theo khoản 3 Điều 24 của Quy trình phối hợp này.
Trong vòng 08 giờ kể từ thời điểm nhận thông báo và hồ sơ của cơ sở y tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền gửi kiến nghị khởi tố bằng văn bản kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện để xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
Đồng thời, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo cán bộ phụ trách công tác trẻ em cấp xã phối hợp với thành viên Ban chỉ đạo, Nhóm thường trực bảo vệ trẻ em cấp xã và các cơ quan, tổ chức có liên quan tiến hành việc đánh giá nguy cơ ban đầu, mức độ tổn hại của trẻ em (theo Mẫu số 02 Phụ lục kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP) và báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã trong vòng 06 giờ kể từ khi có kết quả xác thực về vụ việc.
b) Sau khi nhận kiến nghị khởi tố kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan, các cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm:
Trong vòng 24 giờ kể từ thời điểm nhận kiến nghị khởi tố, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện ra quyết định trưng cầu giám định; cử người đưa trẻ em đi giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho Trung tâm Pháp y tỉnh; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Trung tâm Pháp y tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, khám giám định pháp y cho trẻ em khi có Giấy giới thiệu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, Thường trực Ban chỉ đạo Bảo vệ chăm sóc trẻ em cấp huyện (Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội), bệnh viện, cơ sở y tế hoặc khi có Quyết định trưng cầu giám định của cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp. Trung tâm Pháp y tỉnh thực hiện trả kết luận giám định theo quy định tại khoản 2 Mục V Phần B Phụ lục 1 Quy trình giám định pháp y đối với trẻ em bị hoặc nghi ngờ bị xâm hại tình dục ban hành kèm theo Quyết định số 5609/QĐ-BYT ngày 31 tháng 12 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Y tế; chỉ cung cấp kết quả khám giám định của trẻ em với cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp để phục vụ công tác điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự; trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định theo Quyết định số 5609/QĐ-BYT thì Trung tâm Pháp y tỉnh phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do và gửi cho cơ quan trưng cầu giám định.
Trong vòng 24 giờ kể từ khi có kết luận giám định, Trung tâm Pháp y tỉnh phải thông báo để cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện đến lấy kết luận giám định để đảm bảo tính bảo mật.
Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kết luận giám định, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện phải gửi kết luận giám định cho Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.
Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết luận giám định thì cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện phải thông báo kết luận giám định cho người bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan.
c) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện tiếp tục thực hiện các bước thuộc quy trình tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật. Sau khi có kết quả xử lý vụ việc phải đảm bảo thông báo bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã và gia đình nạn nhân được biết.
2. Thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn tạm thời cho trẻ em trong trường hợp đặc biệt
Các biện pháp can thiệp khẩn cấp được thực hiện trong thời gian nhanh nhất và không quá 12 giờ kể từ thời điểm nhận được thông tin đối với các trường hợp trẻ em đang bị đe dọa hoặc bị gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm hoặc cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em chính là người gây tổn hại cho trẻ em.
3. Các đơn vị, cá nhân trong việc thực hiện biện pháp can thiệp khẩn cấp
a) Cán bộ phụ trách công tác trẻ em cấp xã có trách nhiệm kết nối, phối hợp với cơ sở y tế, cơ quan Công an các cấp để kịp thời điều trị, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm sự an toàn về tính mạng, nhân phẩm của trẻ em; tiếp tục phối hợp với thành viên Ban Chỉ đạo, Nhóm thường trực bảo vệ trẻ em cấp xã và các tổ chức, cá nhân liên quan đánh giá mức độ tổn hại và mức độ an toàn của trẻ em, xây dựng kế hoạch hỗ trợ, can thiệp trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phê duyệt và triển khai thực hiện.
b) Cơ quan Công an các cấp có trách nhiệm tiếp nhận thông tin, thực hiện các biện pháp để ngăn chặn các hành vi đe dọa hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em; đồng thời, cung cấp, trao đổi thông tin với cán bộ phụ trách công tác trẻ em cấp xã và Thường trực Ban Chỉ đạo Bảo vệ trẻ em cấp huyện để đảm bảo công tác phối hợp đạt hiệu quả.
c) Bệnh viện, cơ sở y tế có trách nhiệm ưu tiên tiếp nhận, khám, điều trị khẩn cấp cho trẻ em khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em hoặc người trực tiếp đưa trẻ em đến cơ sở y tế; các cơ sở y tế phối hợp với Trung tâm Pháp y tỉnh thu thập, lưu giữ chứng cứ tổn hại của trẻ em phục vụ việc giám định theo hướng dẫn của Bộ Y tế; đồng thời lưu trữ hồ sơ khám, điều trị của trẻ em theo quy định của pháp luật để phục vụ công tác điều tra, xử lý vụ việc; bệnh viện, cơ sở y tế có thẩm quyền cấp Giấy giới thiệu cho trẻ em đến Trung tâm Pháp y để khám, giám định pháp y phục vụ công tác điều tra, xử lý vụ việc.
Trường hợp cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em đưa trẻ đến bệnh viện, cơ sở y tế thì sau khi khám cho trẻ em, cơ sở y tế tư vấn để cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em lựa chọn giữa việc ưu tiên điều trị, xử lý vết thương khẩn cấp cho trẻ em hoặc ưu tiên đưa trẻ em đến Trung tâm Pháp y để khám giám định pháp y phục vụ công tác điều tra, xử lý vụ việc; đồng thời tư vấn cho cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em về việc báo cho cơ quan Công an nơi xảy ra vụ việc. Trường hợp cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em quyết định ưu tiên đưa trẻ đi khám giám định thì cơ sở y tế cấp Giấy giới thiệu trẻ em đến Trung tâm Pháp y tỉnh.
Trường hợp người trực tiếp đưa trẻ đến bệnh viện, cơ sở y tế không phải cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em thì sau khi khám cho trẻ em, cơ sở y tế ưu tiên điều trị, xử lý vết thương khẩn cấp cho trẻ em; sau đó, cấp Giấy giới thiệu và cử người đưa trẻ em đến Trung tâm Pháp y tỉnh để khám giám định pháp y phục vụ công tác điều tra, xử lý vụ việc.
Trường hợp cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em chính là người bạo lực (hành hạ, ngược đãi, đánh đập), xâm hại, xâm hại tình dục trẻ em thì sau khi khám cho trẻ em, cơ sở y tế ưu tiên điều trị, xử lý vết thương khẩn cấp cho trẻ em; sau đó, cấp Giấy giới thiệu và cử người đưa ngay trẻ em đến Trung tâm Pháp y để khám giám định pháp y phục vụ công tác điều tra, xử lý; đồng thời thông tin nhanh nội dung vụ việc đến Thường trực Ban chỉ đạo Bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp huyện, hoặc cấp tỉnh (Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội) hoặc cơ quan cấp Giấy giới thiệu trẻ đến khám, điều trị.
4. Tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em và biện pháp chăm sóc thay thế được thực hiện trong vòng 12 giờ kể từ thời điểm nhận được thông tin đối với các trường hợp: trẻ em bị xâm hại bởi cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em; trẻ em bị xâm hại nhưng cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em từ chối thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp; trẻ em bị xâm hại có nguy cơ tiếp tục bị xâm hại bởi cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em.
5. Các đơn vị, cá nhân trong việc thực hiện biện pháp tạm thời cách ly hoặc chăm sóc thay thế
a) Cán bộ phụ trách công tác trẻ em cấp xã là đầu mối, phối hợp với thành viên Ban chỉ đạo Bảo vệ, chăm sóc trẻ em cấp xã và các đơn vị liên quan để rà soát, xem xét và thống nhất đề nghị bằng văn bản về việc tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em (nội dung buổi làm việc phải được ghi biên bản). Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền ra Quyết định tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em (theo Mẫu số 07 Phụ lục kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP), bố trí nơi tạm trú an toàn và áp dụng biện pháp chăm sóc thay thế trên cơ sở xem xét văn bản đề nghị của cán bộ phụ trách công tác trẻ em cấp xã.
b) Ngay sau khi có Quyết định tạm thời cách ly của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, trẻ em được bàn giao ngay cho cơ sở bảo trợ xã hội trẻ em công lập có nuôi dưỡng trẻ em trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hoặc cơ sở bảo trợ xã hội ngoài công lập có nuôi dưỡng trẻ em để chăm sóc thay thế. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo các đơn vị có liên quan hoàn tất hồ sơ của trẻ được chăm sóc thay thế theo quy định. Trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội trong thời gian tối đa không quá 03 tháng và được hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
c) Quyết định tạm thời cách ly trẻ em có hiệu lực kể từ ngày ký; được gửi đến cha, mẹ, người chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để thực hiện. Thời hạn tạm thời cách ly tối đa không quá 15 ngày trừ trường hợp phải tiếp tục cách ly theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Khi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em được đánh giá bảo đảm điều kiện an toàn cho trẻ em (theo Mẫu số 03 Phụ lục kèm theo Nghị định số 56/2017/NĐ-CP) thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hủy bỏ Quyết định tạm thời cách ly.