Điều 13. Trách nhiệm quản lý bảo trì công trình xây dựng
1. Trách nhiệm của chủ đầu tư:
a) Tổ chức lập, phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng trong quá trình lập hồ sơ thiết kế, thi công xây dựng công trình theo quy định tại Khoản 2, Điều 38, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP;
b) Bàn giao quy trình bảo trì công trình xây dựng đã được phê duyệt, các tài liệu phục vụ công tác bảo trì có liên quan cho chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền quản lý sử dụng khi nghiệm thu hoàn thành công trình, hạng mục công trình đưa vào sử dụng.
2. Trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền quản lý sử dụng công trình:
a) Xem xét, tiếp nhận quy trình bảo trì công trình xây dựng do chủ đầu tư xây dựng công trình bàn giao khi nghiệm thu hạng mục công trình, công trình xây dựng đưa vào sử dụng; tổ chức lập và phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng đối với những công trình xây dựng đã đưa vào khai thác, sử dụng nhưng chưa có quy trình bảo trì do mình quản lý, khai thác sử dụng;
b) Trên cơ sở quy trình bảo trì công trình xây dựng được duyệt và hiện trạng công trình, tổ chức lập kế hoạch và thực hiện bảo trì công trình xây dựng hàng năm theo các nội dung quy định tại Khoản 2, Điều 39, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP;
c) Tổ chức thực hiện bảo trì công trình xây dựng bao gồm: Kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa công trình, thiết bị; kiểm định chất lượng công trình, quan trắc công trình phục vụ công tác bảo trì công trình xây dựng theo quy định tại Điều 40, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP;
d) Tổ chức quản lý chất lượng công tác bảo trì và quản lý chi phí bảo trì công trình xây dựng theo quy định tại Điều 41, Điều 42, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP;
đ) Tổ chức đánh giá theo định kỳ về an toàn chịu lực và an toàn vận hành công trình đối với các công trình quy định tại Khoản 2, Điều 43, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP, gửi kết quả đánh giá đến Sở Xây dựng và Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành theo phân cấp đối với công trình có quy mô từ cấp II trở xuống;
e) Khi phát hiện công trình, hạng mục công trình có dấu hiệu nguy hiểm, không đảm bảo an toàn cho việc khai thác, sử dụng thì chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm thực hiện ngay các nội dung quy định tại Khoản 1, Điều 44, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP. Đồng thời, báo cáo ngay với chính quyền địa phương nơi gần nhất để được kiểm tra, hướng dẫn tổ chức xử lý theo phân cấp như sau:
- Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành đối với công trình, hạng mục công trình xây dựng chuyên ngành có quy mô cấp II, cấp III trên địa bàn tỉnh.
- Báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện đối với công trình, hạng mục công trình xây dựng cấp IV.
g) Đối với công trình hết thời hạn sử dụng có nhu cầu sử dụng tiếp, chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền quản lý sử dụng công trình tổ chức thực hiện các nội dung quy định tại Khoản 1, Điều 45, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP. Báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh (đối với công trình cấp I, cấp II) và Ủy ban nhân dân cấp huyện (đối công trình cấp III trở xuống) để được xem xét, xử lý.
3. Nguyên tắc xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng
a) Chi phí bảo trì công trình xây dựng được xác định bằng dự toán bảo trì công trình xây dựng.
b) Dự toán bảo trì công trình (gọi tắt là dự toán bảo trì) là toàn bộ chi phí cần thiết được xác định theo yêu cầu các công việc cần phải thực hiện phù hợp với quy trình bảo trì công trình xây dựng được duyệt. Dự toán bảo trì có thể gồm một, một số hoặc toàn bộ các nội dung chi phí trong thực hiện bảo trì công trình xây dựng theo yêu cầu của quy trình bảo trì công trình xây dựng được duyệt.
c) Dự toán bảo trì công trình được xác định phù hợp với quy trình bảo trì công trình xây dựng được duyệt hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo trì (gọi tắt là quy trình bảo trì công trình được duyệt).
d) Căn cứ kế hoạch bảo trì công trình xây dựng (gọi tắt là kế hoạch bảo trì) trên cơ sở quy trình bảo trì công trình được duyệt và hiện trạng công trình:
Dự toán bảo trì được lập định kỳ hàng năm hoặc định kỳ theo giai đoạn (đối với công tác sửa chữa) cho từng nội dung công việc được thực hiện.
Trường hợp cần thiết phải thực hiện các công việc đột xuất trong kế hoạch bảo trì thì chi phí thực hiện các công việc này được bổ sung vào kế hoạch bảo trì.
đ) Chi phí bảo trì được xác định đúng phương pháp, đủ các khoản mục chi phí theo quy định hiện hành, hiện trạng công trình và mặt bằng giá thị trường tại thời điểm xác định chi phí.
4. Các loại chi phí, phương pháp xác định chi phí bảo trì công trình xây dựng thực hiện theo Điều 4, Điều 5 Thông tư số 03/2017/TT-BXD.
5. Chi phí bảo trì công trình xây dựng (áp dụng cho các công trình xây dựng sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước).
a) Trường hợp công trình phải thực hiện sủa chữa công trình, thiết bị có chi phí dưới 500 triệu đồng thì chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền quản lý sử dụng công trình tự quyết định về kế hoạch sửa chữa với các nội dung: Tên bộ phận công trình hoặc thiết bị cần thay thế, lý do sửa chữa hoặc thay thế, khối lượng công việc, dự kiến chi phí, đề xuất cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điểm a, b Khoản 6 Điều này xem xét, quyết định phân bổ nguồn kinh phí để thực hiện trước ngày 31 tháng 10 hàng năm.
b) Trường hợp công trình phải thực hiện sủa chữa công trình, thiết bị có chi phí từ 500 triệu đồng trở lên thì chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền quản lý sử dụng công trình tổ chức lập, trình thẩm định và phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật hoặc dự án đầu tư xây dựng theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng công trình.
c) Công tác quản lý, thanh toán, quyết toán chi phí bảo trì công trình xây dựng thực hiện theo quy định tại Khoản 5, Điều 42, Nghị định số 46/2015/NĐ-CP.
d) Đối với các công trình sử dụng nguồn vốn khác, khuyến khích thực hiện việc quản lý chi phí bảo trì công trình theo quy định tại Điểm a, b Khoản này.
6. Bố trí kinh phí bảo trì công trình xây dựng từ nguồn ngân sách Nhà nước
a) Đối với công trình xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý, khai thác sử dụng của Ủy ban nhân dân tỉnh, các Sở, Ban, Ngành tỉnh: Hàng năm, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành rà soát, tổng hợp số lượng công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước được các chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền quản lý sử dụng công trình đề xuất theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều này, tiến hành kiểm tra, đánh giá hiện trạng công trình, cân đối nguồn vốn ngân sách cấp tỉnh, tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt kế hoạch phân bổ, bố trí vốn cho các công trình. Kế hoạch vốn để thực hiện sửa chữa công trình, thiết bị theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều này (không bao gồm phần thiết bị công nghệ của công trình);
b) Đối với công trình xây dựng thuộc thẩm quyền quản lý, khai thác sử dụng của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, các ban, ngành cấp huyện: Hàng năm, Phòng Tài chính - Kế hoạch chủ trì phối hợp với Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện rà soát, tổng hợp số lượng công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước được các chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền quản lý sử dụng công trình đề xuất theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều này tiến hành kiểm tra, đánh giá hiện trạng công trình, cân đối nguồn vốn ngân sách cấp huyện, tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt kế hoạch phân bổ, bố trí vốn cho các công trình. Kế hoạch vốn để thực hiện sửa chữa công trình, thiết bị theo quy định tại Điểm a, Khoản 5 Điều này (không bao gồm phần thiết bị công nghệ của công trình).