vanban.org

Điều 22. Ứng dụng kết quả nghiên cứu nhiệm vụ KH&CN — Quyết định 14/2016/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2019 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/2019 Thay thế: 37/2018/QĐ-UBND · 14/12/2018
Đắk Nông Ban hành 13/04/2016 Hiệu lực 23/04/2016 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 6 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 37/2018/QĐ-UBND Ban hành quy định quản lý Nhà nước việc thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Đắk Nông · 37/2018/QĐ-UBND
Quyết định số 14/2016/QĐ-UBND ban hành Quy định quản lý Nhà nước các nhiệm vụ khoa học và công nghệ tỉnh Đắk Nông · 14/2016/QĐ-UBND
01/01/201937/2018/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 23/04/2016Bản gốcThay thế
Quyết định số 14/2011/QĐ-UBND Về việc điều chỉnh Quy định quản lý nhà nước các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tỉnh Đăk Nông · 14/2011/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 14/2016/QĐ-UBND › Chương V › Điều 22
Đọc toàn văn

Điều 22. Ứng dụng kết quả nghiên cứu nhiệm vụ KH&CN

1. Sở Khoa học và Công nghệ cùng với đơn vị đề xuất đặt hàng, tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN và các Sở, ngành có liên quan chịu trách nhiệm về việc chuyển giao kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ KH&CN.

2. Tổ chức đề xuất đặt hàng, chủ trì và chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN có trách nhiệm dự trữ kinh phí triển khai ứng dụng, thực hiện kế hoạch triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu và báo cáo với Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Khoa học và Công nghệ chậm nhất 6 tháng sau khi nghiệm thu.

Trường hợp tổ chức đề xuất đặt hàng, chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN không thực hiện trách nhiệm quy định tại khoản này thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Định kỳ hàng năm và liên tục trong 2 năm sau khi nhiệm vụ KH&CN kết thúc, đơn vị đề xuất đặt hàng, cơ quan chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ KH&CN phải lập và gửi báo cáo kết quả thực hiện về Sở Khoa học và Công nghệ. Ngoài ra, còn có báo cáo đột xuất gửi Sở Khoa học và Công nghệ khi có yêu cầu.

3. Tổ chức, cá nhân ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, sản xuất sản phẩm mới được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng theo quy định của pháp luật hiện hành.

4. Việc phân chia lợi nhuận được thỏa thuận cụ thể trong từng hợp đồng KH&CN giữa các bên. Trong trường hợp việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ do ngân sách của tỉnh đầu tư 100% thì việc phân chia lợi nhuận thực hiện theo các quy định của pháp luật hiện hành.