Điều 12. Hồ sơ thẩm định
Chậm nhất là 15 (mười lăm) ngày trước ngày Ủy ban nhân dân tỉnh họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đến Sở Tư pháp để thẩm định.
1. Hồ sơ dự thảo do các sở, ban, ngành thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì soạn thảo gửi đến Sở Tư pháp để thẩm định (sau đây gọi là hồ sơ thẩm định) bao gồm:
a) Công văn đề nghị thẩm định;
b) Dự thảo tờ trình của Ủy ban nhân dân tỉnh về dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh trình; dự thảo tờ trình của các sở, ban, ngành về dự thảo Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh;
c) Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh trình, Quyết định, Chỉ thị của Ủy ban nhân dân tỉnh;
d) Bản tổng hợp ý kiến của các sở, ban, ngành, cơ quan tổ chức hữu quan về dự thảo và bản sao ý kiến của mỗi sở, ngành, cơ quan, tổ chức đó; bản tổng hợp ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản, ý kiến của nhân dân về dự thảo (nếu có); bản giải trình về việc tiếp thu, không tiếp thu ý kiến góp ý vào dự thảo;
đ) Các tài liệu có liên quan mà cơ quan soạn thảo tập hợp được trong quá trình soạn thảo;
e) Đối với các dự thảo văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có quy định về thủ tục hành chính, hồ sơ gửi thẩm định phải có bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và báo cáo giải trình về việc tiếp thu ý kiến góp ý của các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân, trong đó có ý kiến góp ý của cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính.
Cơ quan thẩm định không tiếp nhận hồ sơ gửi thẩm định nếu dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính chưa có văn bản đánh giá tác động về thủ tục hành chính và ý kiến góp ý của cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính.
2. Giám đốc Sở Tư pháp có trách nhiệm tổ chức việc lưu trữ, bảo quản hồ sơ thẩm định, văn bản thẩm định và các tài liệu có liên quan theo quy định của pháp luật về lưu trữ.