Điều 3. Thời điểm áp dụng nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất
1. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm có quyết định cho thuê đất; trường hợp thời điểm bàn giao đất không đúng với thời điểm ghi trong quyết định cho thuê đất thì nghĩa vụ tài chính được xác định theo chính sách và giá đất tại thời điểm bàn giao đất thực tế.
2. Trường hợp tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đăng ký biến động trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuê do nhận chuyển nhượng tài sản trên đất gắn liền với quyền sử dụng đất thuê; thay đổi tên đơn vị thuê đất, bổ sung mục đích sử dụng đất tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Thành phố thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường mà không cần điều chỉnh quyết định cho thuê đất, trong trường hợp phải xác định lại đơn giá thuê đất do hết thời hạn ổn định hoặc do thay đổi mục đích sử dụng đất thuê thì giá đất để tính tiền thuê đất được áp dụng tại thời điểm đơn vị, tổ chức hết thời hạn ổn định hoặc tại thời điểm thay đổi mục đích sử dụng đất thuê.
3. Trường hợp tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước tạm thời cho thuê đất trong thời gian chờ thực hiện quy hoạch hoặc đối với phần diện tích đất thuộc quy hoạch lộ giới, mà không phải trình Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành quyết định cho thuê đất thì thời điểm xác định đơn giá thuê đất được căn cứ theo văn bản đề nghị xác định đơn giá thuê đất của Sở Tài nguyên và Môi trường gửi Sở Tài chính trong đó có xác định rõ thời gian đơn vị nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định.