Điều 16. Tiêu huỷ các tài liệu mật
1. Thẩm quyền quyết định tiêu huỷ tài liệu: việc tiêu huỷ tài liệu mật được thực hiện như sau:
a) Ở cơ quan Bộ Y tế do Bộ trưởng quyết định.
b) Ở các cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do giám đốc sở y tế (hoặc tương đương) quyết định.
c) Các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế do thủ trưởng đơn vị quyết định.
Đối với mật mã thực hiện quy định của Ban Cơ yếu Chính phủ.
2. Tổ chức tiêu huỷ tài liệu mật phải được thực hiện theo quy định sau:
a) Hội đồng tiêu huỷ tài liệu mật của cơ quan Bộ Y tế gồm:
| - Thủ trưởng cơ quan, đơn vị | Chủ tịch Hội đồng |
| - Chánh hoặc Phó Chánh Văn phòng Bộ | Phó Chủ tịch Hội đồng |
| - Đại diện bộ phận bảo mật của cơ quan | Uỷ viên |
| - Đại diện đơn vị có tài liêụ huỷ | Uỷ viên |
| - Người trực tiếp quản lý tài liệu mật | Uỷ viên, thư ký hội đồng |
b) Hội đồng tiêu huỷ tài liệu mật của các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế gồm:
| - Đại diện lãnh đạo đơn vị | Chủ tịch Hội đồng |
| - Trưởng hoặc phó phòng hành chính - tổ chức | Phó Chủ tịch Hội đồng |
| - Đại diện bộ phận bảo mật của cơ quan | Uỷ viên |
| - Đại diện của đơn vị có tài liệu huỷ | Uỷ viên |
| - Người trực tiếp quản lý tài liệu mật | Uỷ viên, thư ký Hội đồng |
c) Lập biên bản thống kê đầy đủ danh mục từng tài liệu mật cần tiêu huỷ, trong đó phải ghi rõ số công văn, số bản, trích yếu tài liệu. Nội dung biên bản phải phản ánh phương thức, trình tự tiến hành và người thực hiện tiêu huỷ tài liệu mật theo đúng quy định của pháp luật. Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia tiêu huỷ.
d) Không tiết lộ, không để lọt ra ngoài các tài liệu mật.
3. Cách thức tiêu huỷ tài liệu mật được thực hiện như sau:
a) Đối với tài liệu mật là văn bản in trên giấy phải được đốt hoặc xé, nghiền nhỏ tới mức không thể chắp ghép lại được.
b) Đối với tài liệu mật là băng, đĩa, phim phải làm thay đổi toàn bộ hình dạng và tính năng tác dụng để không còn khai thác, sử dụng được.
c) Trong trường hợp đặc biệt, không có điều kiện tổ chức tiêu huỷ tài liệu mật theo quy định trên, nếu tài liệu mật không được tiêu huỷ ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu mật đó được quyền tự tiêu huỷ nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với người đứng đầu cơ quan, tổ chức và cơ quan Công an. Nếu việc tự tiêu huỷ tài liệu mật không có lý do chính đáng thì người tiêu huỷ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
d) Biên bản tiêu huỷ lưu tại bộ phận bảo mật của cơ quan.