vanban.org

Điều 14. Thanh tra viên thuộc hệ thống Thanh tra Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin — Quyết định 139/2003/QĐ-BBCVT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 30/08/2003 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Bưu chính, Viễn thông Ban hành 04/08/2003 Hiệu lực 30/08/2003 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 139/2003/QĐ-BBCVT › Chương II › Mục 5 › Điều 14
Đọc toàn văn

Điều 14. Thanh tra viên thuộc hệ thống Thanh tra Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin

1. Thanh tra viên là công chức được phân công làm công tác thanh tra tại các tổ chức thanh tra thuộc hệ thống Thanh tra Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin, được bổ nhiệm theo Quy chế Thanh tra viên ban hành theo Nghị định số 191/HĐBT ngày 18 tháng 6 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc ban hành Quy chế Thanh tra viên và các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, cụ thể như sau:

a) Bổ nhiệm Thanh tra viên (cấp 1): Công chức làm công tác thanh tra có thời gian từ 02 năm trở lên (không kể thời gian tập sự đối với công chức mới được tuyển dụng) hoặc có thời gian từ 01 năm trở lên (đối với công chức đang công tác ở các cơ quan Đảng, Nhà nước, đơn vị vũ trang chuyển sang làm công tác thanh tra) có đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ theo quy định tại Nghị định số 191/HĐBT ngày 18/6/1991 và Quyết định số 818/TCCB-CP ngày 21/10/1993 của Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức ngành Thanh tra Nhà nước, được Cục trưởng đề nghị (tại Thanh tra Cục) hoặc Chánh Thanh tra Bộ đề nghị (tại Thanh tra Bộ) và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ trình Hội đồng xét duyệt và đề nghị Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông bổ nhiệm.

b) Bổ nhiệm Thanh tra viên chính (cấp 2): Công chức đã được xếp ngạch chuyên viên chính, kỹ sư chính, nghiên cứu viên chính hoặc các ngạch chức danh tương đương được phân công làm công tác thanh tra có thời gian từ 01 năm trở lên và đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ của ngạch Thanh tra viên chính thì Cục trưởng đề nghị (tại Thanh tra Cục) hoặc Chánh Thanh tra Bộ đề nghị (tại Thanh tra Bộ), Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ trình Bộ trưởng xét duyệt và trình Tổng Thanh tra Nhà nước bổ nhiệm. Công chức có thâm niên ở ngạch Thanh tra viên từ 09 năm trở lên, có bậc lương tối thiểu 5/10 (hệ số lương 2,97) hoặc chuyên viên có bậc lương tối thiểu 5/10 (hệ số lương 2,97) và có thời gian làm công tác thanh tra từ 01 năm trở lên, có đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ theo quy định tại Nghị định số 191/HĐBT ngày 18/6/1991 và Quyết định số 818/TCCB-CP ngày 21/10/1993, được Cục trưởng đề nghị (tại Thanh tra Cục) hoặc Chánh Thanh tra Bộ đề nghị (tại Thanh tra Bộ) và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ trình Bộ trưởng xét duyệt, đề nghị dự kỳ thi nâng ngạch của Thanh tra Nhà nước, Tổng Thanh tra Nhà nước bổ nhiệm sau khi đã đạt kết quả của kỳ thi nâng ngạch.

c) Bổ nhiệm Thanh tra viên cao cấp (cấp 3): Thanh tra viên chính có thâm niên ở ngạch Thanh tra viên chính từ 06 năm trở lên, có bậc lương 4/9 (hệ số lương 4,29), có đủ tiêu chuẩn nghiệp vụ theo quy định tại Nghị định số 191/HĐBT ngày 18/6/1991 và Quyết định số 818/TCCB-CP ngày 21/10/1993, được Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ trình Bộ trưởng xét duyệt và đề nghị dự kỳ thi nâng ngạch của Thanh tra Nhà nước, Tổng Thanh tra Nhà nước trình

2. Thanh tra viên các cấp, sau khi được bổ nhiệm được hưởng lương ngạch thanh tra, được cấp thẻ Thanh tra viên và hưởng các chính sách đối với Thanh tra viên.

3. Cấp có thẩm quyền bổ nhiệm Thanh tra viên ở cấp nào thì có thẩm quyền miễn nhiệm Thanh tra viên ở cấp đó.

4. Thanh tra Cục Tần số vô tuyến điện, Thanh tra Cục Quản lý chất lượng Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin được bố trí Thanh tra viên tại các Trung tâm Kiểm soát tần số khu vực và Chi cục Quản lý chất lượng khu vực. Mối quan hệ công tác giữa Thanh tra Cục với các Trung tâm Kiểm soát tần số khu vực và các Chi cục Quản lý chất lượng khu vực do Cục trưởng quy định.

5. Thanh tra viên thuộc hệ thống Thanh tra Bưu chính, Viễn thông và Công nghệ thông tin được cấp trang phục thanh tra theo Nghị định số 191/HĐBT ngày 18/6/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc ban hành Quy chế Thanh tra viên và Thông tư liên bộ số 01 TT/LB ngày 16/9/1991 của Thanh tra Nhà nước và Bộ Tài chính. Quy cách, mầu sắc trang phục do Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông quy định sau khi thống nhất với Tổng Thanh tra Nhà nước.