Điều 19. Xử lý khi có sự thay đổi khối lượng gỗ khai thác so với khối lượng ghi trong hợp đồng:
1/ Trường hợp Nhà nước đình chỉ hoặc giảm chỉ tiêu khai thác gỗ do yêu cầu đột xuất (không phải do lỗi của đơn vị trúng thầu) làm thiệt hại đến quyền lợi kinh tế chính đáng của đơn vị trúng thầu, thì đơn vị trúng thầu được xem xét giải quyết đền bù những thiệt hại đó.
2/ Trường hợp đơn vị trúng thầu đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy trình, quy phạm trong khai thác, chặt đúng cây có dấu búa bài mà phát sinh thừa, thiếu khối lượng so với hồ sơ thiết kế thì được xử lý như sau:
a/ Nếu khối lượng gỗ khai thác tăng hoặc giảm không quá 10% so với khối lượng thiết kế khai thác, thì sự chênh lệch này được chấp nhận trong phạm vi sai số cho phép của thiết kế khai thác.
b/ Khi khai thác lấy ra đủ sản lượng gỗ ghi trong giấy phép thì đơn vị trúng thầu không được chặt hạ tiếp dù vẫn còn cây có dấu búa bài trên hiện trường, đồng thời phải báo cáo chủ rừng, Hạt Kiểm lâm sở tại và các ngành chức năng kiểm tra xử lý.
c/ Nếu sản lượng khai thác lấy ra thiếu hoặc thừa trên 10% so với sản lượng thiết kế do chất lượng thiết kế không đảm bảo gây thiệt hại cho đơn vị trúng thầu hoặc gây thiệt hại đến tài nguyên rừng thì đơn vị thiết kế phải chịu trách nhiệm bồi thường các khoản thiệt hại đó.
3/ Trường hợp gỗ khai thác bị sam bọng, rỗng ruột không đạt cấp chất lượng B theo quy định TCVN 1074 - 71 nhóm O thì được xử lý như sau:
a/ Khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột được tính toán để làm cơ sở cho xử lý là khối lượng thực được nghiệm thu, được hiểu là khối lượng gỗ đặc đã trừ sam bọng, rỗng ruột.
b/ Nếu khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột này chiếm không quá 10% so với tổng sản lượng gỗ trúng thầu thì chi phí và giá bán vẫn áp dụng theo đơn giá ghi trong hợp đồng.
c/ Nếu khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột này chiếm trên 10% so với tổng sản lượng gỗ trúng thầu:
Chi phí khai thác của khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột được tính tăng lên tương ứng với tỷ lệ sam bọng, rỗng ruột của từng lóng gỗ so với đơn giá ghi trong hợp đồng nhưng không quá 50% chi phí khai thác của khối lượng nguyên (khối lượng chưa trừ sam bọng, rỗng ruột).
Giá bán của khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột tính giảm xuống tương ứng với tỷ lệ sam bọng, rỗng ruột của từng lóng gỗ so với đơn giá ghi trong hợp đồng nhưng không thấp hơn các khoản chi phí và thuế phải nộp.
d/ Đơn vị trúng thầu mua cây đứng (bao gồm cả đơn vị trúng thầu và được giao thầu) vẫn phải tiêu thụ hết khối lượng gỗ sam bọng, rỗng ruột nói trên.
4/ Đơn vị khai thác (bao gồm cả đơn vị trúng thầu và được giao thầu) phải tổ chức khai thác lấy ra hết phần gỗ lớn và gỗ nhỏ đạt tiêu chuẩn gỗ tròn theo quy định của TCVN 1074 - 71 nhóm O của những cây đã được bài chặt theo thiết kế được duyệt. Nếu đơn vị khai thác không khai thác lấy ra hết khối lượng gỗ này, mà không thuộc các trường hợp nêu ở mục 1,2 điều này thì phải bồi thường cho Nhà nước về khối lượng gỗ không lấy ra này theo đơn giá ghi trong hợp đồng. Trong trường hợp đơn vị khai thác không nộp đủ tiền bồi thường thì đơn vị chủ rừng trừ vào khoản tiền đặt cọc của đơn vị trúng thầu. Tiền bồi thường này được xem như tiền mua gỗ, đơn vị chủ rừng xử lý như quy định tại tiết b, khoản 1, điều 17; đồng thời báo cáo UBND tỉnh và các ngành chức năng.
5. Ngoài số gỗ lớn và gỗ cành ngọn đã được lấy ra theo đúng thiết kế, để khuyến khích đơn vị khai thác tăng cường tận dụng triệt để các sản phẩm gỗ nhỏ, cành ngọn, cây cong queo, sâu bệnh, sam bọng, rỗng ruột... còn lại, cần xác định giá bán và phương thức thanh toán hợp lý cho đơn vị khai thác, kết hợp mục tiêu vệ sinh rừng, giải quyết nhu cầu gỗ cho nhân dân địa phương.
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thống nhất với Chi cục Kiểm lâm, Sở Tài chính - Vật giá hướng dẫn cụ thể thực hiện vấn đề này.