Điều 7. Bồi thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ -CP
1. Đối với mồ mả trong phạm vi đất thu hồi phải di dời thì được bồi thường các chi phí bao gồm: chi phí đào, bốc, di dời, xây dựng mới và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp để di dời mồ mả đến vị trí mới trong nghĩa trang theo quy hoạch của địa phương, mức bồi thường như sau:
a) Mộ có chủ đã cải táng: 10.000.000 đồng/mộ.
b) Mộ có chủ chưa cải táng tính đến thời điểm kiểm kê < 36 tháng: 15.000.000 đồng/mộ.
c) Mộ có chủ chưa cải táng tính đến thời điểm kiểm kê ≥ 36 tháng: 12.000.000 đồng/mộ.
d) Mộ vô chủ đã cải táng: 3.000.000 đồng/mộ.
đ) Mộ vô chủ chưa cải táng: 6.000.000 đồng/mộ.
2. Trường hợp tự thu xếp di dời mồ mả ngoài khu vực được bố trí thì ngoài mức bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này còn được hỗ trợ 5.000.000 đồng/mộ đối với mộ phải di chuyển thuộc địa bàn các phường: Hạc Thành, Quảng Phú, Đông Quang, Đông Sơn, Đông Tiến, Hàm Rồng, Nguyệt Viên, Sầm Sơn, Nam Sầm Sơn, Tĩnh Gia, Nghi Sơn, Hải Lĩnh, Tân Dân, Trúc Lâm, Đào Duy Từ, Ngọc Sơn, Hải Bình, Bỉm Sơn, Quang Trung, xã Các Sơn và xã Trường Lâm; 3.000.000 đồng/mộ đối với mộ phải di chuyển thuộc các địa bàn còn lại. Việc hỗ trợ được thực hiện sau khi có xác nhận của UBND cấp xã hoặc tổ chức có liên quan nơi tiếp nhận.
3. Trường hợp mộ đã được xây trát, ốp lát thì ngoài việc được bồi thường, hỗ trợ theo khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này còn được bồi thường khối lượng xây trát, ốp lát theo đơn giá bồi thường tài sản, vật kiến trúc do UBND tỉnh ban hành.