Điều 7. Quản lý giá dịch vụ nghĩa trang, dịch vụ hỏa táng và giá chuyển nhượng quyền sử dụng phần mộ cá nhân
1. Đối với nghĩa trang, cơ sở hỏa táng được đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước: Việc lập phương án giá, thẩm định phương án giá, trình và ban hành văn bản định giá dịch vụ nghĩa trang, dịch vụ hỏa táng thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2016 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 7 Điều 27 Nghị định số 85/2024/NĐ-CP ngày 10 tháng 7 năm 2024. Trong đó, đơn vị được giao quản lý nghĩa trang có trách nhiệm lập phương án giá, gửi Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính thẩm định, trình Ủy ban nhân dân thành phố ban hành văn bản định giá.
2. Đối với nghĩa trang, cơ sở hỏa táng được đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước: Chủ đầu tư có trách nhiệm lập phương án giá chuyển nhượng quyền sử dụng phần mộ cá nhân và giá dịch vụ nghĩa trang, dịch vụ hỏa táng, gửi Sở Xây dựng cho ý kiến về sự phù hợp của phương án giá (gồm phương pháp xác định, các yếu tố đầu vào để xác định chi phí, định mức (nếu có), mức giá) trước khi chủ đầu tư phê duyệt theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2016 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 28 Nghị định 144/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025.
3. Giá dịch vụ nghĩa trang, dịch vụ hỏa táng, giá chuyển nhượng quyền sử dụng phần mộ cá nhân phải được minh bạch và niêm yết công khai theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 27 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2016. Đối với nghĩa trang được đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước còn phải được chủ đầu tư thực hiện công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về giá chuyển nhượng quyền sử dụng phần mộ cá nhân theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 15 Nghị định số 23/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm 2016.