vanban.org

Điều 12. Bàn giao mặt bằng, cưỡng chế thu hồi đất — Quyết định 13/2017/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 11/11/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 11/11/2024 Thay thế: 30/2024/QĐ-UBND · 31/10/2024
Đồng Tháp Ban hành 11/04/2017 Hiệu lực 25/04/2017 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 9 năm
Quyết định số 30/2024/QĐ-UBND Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp · 30/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 13/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy trình thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp · 13/2017/QĐ-UBND
11/11/202430/2024/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 25/04/2017Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 13/2017/QĐ-UBND › Chương III › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Bàn giao mặt bằng, cưỡng chế thu hồi đất

1. Bàn giao mặt bằng

Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chi trả xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng hoặc thời hạn có thể sớm hơn nếu người có đất thu hồi tự nguyện, ủng hộ việc sớm bàn giao mặt bằng để triển khai dự án.

Việc bàn giao đất giữa Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và người có đất thu hồi phải lập thành biên bản và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi.

Sau khi đã thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án có trách nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng quản lý, sử dụng đất đã thu hồi theo quy định tại Điều 68 của Luật Đất đai 2013.

2. Cưỡng chế thu hồi đất

Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư hoặc không bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì phối hợp Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hoặc các tổ chức đoàn thể cấp xã có liên quan nơi có đất thu hồi tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện.

Trường hợp sau khi đã được vận động, thuyết phục mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất vẫn không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ, không nhận nhà, đất được bố trí tái định cư hoặc không chấp hành việc bàn giao đất thì Ủy ban nhân dân cấp huyện chỉ đạo Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và Mặt trận Tổ quốc cấp xã lập biên bản lưu hồ sơ và chuyển số tiền bồi thường, hỗ trợ phải chi trả này vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước, giữ nguyên phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để làm căn cứ giải quyết khiếu nại sau này (nếu có), đồng thời Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất (mẫu số 11 của Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường) và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 Luật Đất đai 2013.

Trình tự, thủ tục thực hiện cưỡng chế quyết định thu hồi đất thực hiện theo Điều 71 của Luật Đất đai 2013.