Điều 19. Trách nhiệm của Sở Công Thương
1. Sở Công Thương là cơ quan chuyên môn đầu mối giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về vật liệu nổ công nghiệp tại địa phương.
2. Hướng dẫn tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện Quy chế này và các quy định pháp luật có liên quan.
3. Tiếp nhận hồ sơ, thẩm định cấp, điều chỉnh, cấp lại, thu hồi Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn cho các tổ chức thuộc thẩm quyền cấp phép của Sở Công Thương.
4. Tổ chức tập huấn, kiểm tra, cấp Giấy chứng nhận tập huấn kỹ thuật an toàn vật liệu nổ công nghiệp cho các đối tượng của tổ chức sử dụng về vật liệu nổ công nghiệp thuộc thẩm quyền cấp Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp của Sở Công Thương.
5. Thực hiện thẩm tra thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu đưa công trình kho chứa vật liệu nổ công nghiệp dạng cố định vào sử dụng.
6. Thực hiện việc đăng ký sử dụng về vật liệu nổ công nghiệp đối với các tổ chức có Giấy phép sử dụng vật liệu nổ công nghiệp theo mẫu quy định tại Phụ lục 1 của Thông tư 26/2012/TT-BCT.
7. Kiểm tra việc thực hiện phương án giám sát ảnh hưởng nổ mìn.
8. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan thực hiện:
a) Xây dựng trình Ủy ban nhân dân tỉnh quy hoạch các đầu mối dịch vụ nổ mìn địa phương, các đầu mối bảo quản, tuyến đường vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp; định mức kinh tế - kỹ thuật trong sử dụng vật liệu nổ công nghiệp.
b) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm về hoạt động vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của Quy chế này và quy định pháp luật có liên quan.
c) Tiến hành kiểm tra việc đảm bảo các quy định pháp luật về thời gian, địa điểm nổ mìn, khoảng cách an toàn, các điều kiện an ninh, an toàn khác và cấp Giấy đăng ký cho tổ chức sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trước khi nổ mìn;
9. Lập báo cáo theo định kỳ 06 (sáu) tháng, hàng năm về tình hình quản lý và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo mẫu quy định tại Phụ lục 3 Thông tư 23/2009/TT-BCT và gửi về Bộ Công Thương trước ngày 30 tháng 6 đối với báo cáo 06 (sáu) tháng, trước ngày 31 tháng 12 đối với báo cáo năm.