Điều 6. Quy trình thực hiện tự kiểm tra văn bản
1. Khi văn bản quy phạm pháp luật được gửi đến cơ quan, thủ trưởng cơ quan phân công đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện việc tự kiểm tra, đơn vị người được giao trách nhiệm tự kiểm tra có trách nhiệm: tiếp nhận văn bản được gửi đến; phân loại văn bản, vào “Sổ tự kiểm tra văn bản đến” phân công cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện tự kiểm tra văn bản.
2. Người trực tiếp kiểm tra văn bản kiểm tra toàn bộ văn bản theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, đánh giá về tính hợp pháp của văn bản được kiểm tra, ký tên và ghi rõ ngày tháng năm kiểm tra vào góc trên bên trái trang đầu tiên của văn bản quy phạm pháp luật để xác nhận đã thực hiện việc kiểm tra và ghi tên văn bản vào danh mục văn bản đã kiểm tra và lập báo cáo kèm theo danh mục những văn bản đã được phân công kiểm tra.
3. Khi phát hiện nội dung của văn bản được kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra văn bản phải báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất xử lý thông qua “Phiếu kiểm tra văn bản” (theo mẫu ban hành kèm theo Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều Nghị định số 40/2010/NĐ-CP về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật).
4. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị tự kiểm tra xem xét nội dung trái pháp luật của văn bản, đồng thời chủ trì phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan trao đổi, thống nhất về biện pháp xử lý;
5. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị tự kiểm tra văn bản báo cáo kết quả tự kiểm tra văn bản theo quy định tại Khoản 2, Điều 12 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP cho cấp có thẩm quyền đã ban hành văn bản đó. Trong trường hợp không thống nhất được nội dung trái pháp luật và hướng xử lý giữa cơ quan chủ trì tự kiểm tra với cơ quan, đơn vị có liên quan, cơ quan được giao nhiệm vụ tự kiểm tra có trách nhiệm nêu rõ ý kiến của các bên. Quyết định của cấp có thẩm quyền ban hành văn bản đó là quyết định cuối cùng.