Điều 23. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền quy định tại Điều 23 Luật Khiếu nại, tố cáo.
2. Đối với khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố giao cho Chánh Thanh tra thành phố xem xét kết luận và kiến nghị việc giải quyết. Trước khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố tổ chức gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan.
3. Đối với khiếu nại mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, Thủ trưởng các cơ quan của Thành phố đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố giao cho Chánh Thanh tra thành phố tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, quyết định.
4. Đối với khiếu nại Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, Thủ trưởng các Sở giải quyết khiếu nại lần đầu về kỷ luật cán bộ, công chức, trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật lần thứ hai thực hiện theo Thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ.
5. Đối với khiếu nại liên quan đến các lĩnh vực cụ thể nào thì các ngành chức năng của Thành phố tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố về lĩnh vực đó có trách nhiệm xem xét, kiểm tra, trả lời và báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố.
Riêng nội dung khiếu nại liên quan đến trật tự xây dựng và cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, quyền sử dụng đất ở (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận), việc giải quyết cụ thể như sau:
5.1. Khiếu nại liên quan đến quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện giải quyết lần đầu về lĩnh vực trật tự xây dựng, Sở Xây dựng có trách nhiệm xem xét, trình Ủy ban nhân dân thành phố quyết định.
5.2. Khiếu nại về cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở do Ủy ban nhân dân thành phố cấp thì Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra, báo cáo (đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận theo Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ), Sở Xây dựng có trách nhiệm kiểm tra, báo cáo (đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận theo Nghị định 61/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ).
Trường hợp qua kiểm tra thấy giấy chứng nhận đã cấp là đúng pháp luật thì cơ quan kiểm tra (Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc Sở Xây dựng) ra văn bản trả lời người có đơn, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố.
Trường hợp qua kiểm tra phát hiện thấy giấy chứng nhận đã cấp chưa đúng quy định của pháp luật hoặc có sai sót về chính tả, tên địa danh, tên chủ sử dụng, mốc giới, hình thể thửa đất… thì cơ quan kiểm tra đề xuất giải pháp khắc phục nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người có đơn, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố.
Sau khi có văn bản trả lời của cơ quan kiểm tra (đối với trường hợp qua kiểm tra thấy giấy chứng nhận đã cấp là đúng pháp luật) và sau khi có văn bản chỉ đạo giải quyết, khắc phục (đối với trường hợp qua kiểm tra phát hiện thấy giấy chứng nhận đã cấp chưa đúng quy định của pháp luật hoặc có sai sót nêu trên) mà người có đơn tiếp tục có đơn khiếu nại, Ủy ban nhân dân thành phố giao Thanh tra thành phố xem xét, kết luận, báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố giải quyết.
6. Đối với những vụ việc phức tạp, trước khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố tham khảo ý kiến của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ về những nội dung có liên quan đến chức năng quản lý Nhà nước của Bộ, ngành đó.