Điều 11. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở
1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở có vị trí tương ứng của thửa đất đó theo quy định trong bảng giá đất của tỉnh.
2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở có vị trí tương ứng với đất thu hồi theo quy định trong bảng giá đất của tỉnh.
3. Hạn mức diện tích đất được hỗ trợ bằng 05 lần hạn mức giao đất ở trên địa bàn tỉnh tại thời điểm lập phương án bồi thường, nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
4. Xác định khu dân cư để tính hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trung khu dân cư.
- Khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của thôn, ấp và các điểm dân cư tương tự.
- Do đặc điểm dân cư, tập quán sinh sống, sản xuất của nhân dân từng vùng Ủy ban nhân dân tỉnh gia cho Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào tình hình thực tế tại địa phương quy định ranh giới thửa đất có nhà ở ngoài cùng của thôn, ấp và các điểm dân cư tương tự làm căn cứ lập phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
- Việc xác định khu dân cư là do Ủy ban nhân dân cấp xã điều tra khảo sát để xác định ranh giới các khu dân cư, thông qua Hội đồng nhân dân xã, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.