vanban.org

Điều 8a. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất sau khi thu hồi. — Quyết định 1263/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 13/12/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 13/12/2014 Thay thế: 2680/2014/QĐ-UBND · 03/12/2014
Hải Phòng Ban hành 30/07/2010 Hiệu lực 09/08/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 24/2022/QĐ-UBND ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 24/2022/QĐ-UBND
Quyết định số 2680/2014/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 2680/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 1263/2010/QĐ-UBND Sửa đổi Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng kèm theo Quyết định 130/2010/QĐ-UBND · 1263/2010/QĐ-UBND
13/12/20142680/2014/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 09/08/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1263/2010/QĐ-UBND › Điều 8a
Đọc toàn văn

Điều 8a. Xử lý một số trường hợp cụ thể về đất sau khi thu hồi.

Sau khi thu hồi đất, trường hợp chiều sâu còn lại của thửa đất tính từ sau chỉ giới giao thông hoặc sau chỉ giới vỉa hè đến 3m, trường hợp diện tích còn lại dưới 20 m2 ở nội thành, dưới 40 m2 ở ngoại thành; hoặc còn lại lớn hơn mức trên nhưng hình thể thửa đất không thuận tiện sử dụng; đất canh tác còn lại không đủ điều kiện sản xuất thì chủ đầu tư phối hợp với Uỷ ban nhân dân cấp huyện khuyến khích các hộ chuyển nhượng cho hộ sử dụng đất liền kề, hoặc đề nghị Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền thu hồi, bồi thường và bố trí tái định cư theo quy định, diện tích đất thu hồi này giao Uỷ ban nhân dân cấp xã quản lý, sử dụng theo quy hoạch.

Những trường hợp đặc biệt khác: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường các cấp báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết cho từng trường hợp cụ thể.

10. Sửa đổi, bổ sung nội dung về "niên hạn sử dụng nhà, công trình" tại điểm 2.3 khoản 2, Điều 9:

+ Niên hạn sử dụng được xác định theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC 20/10/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định, cụ thể như sau:

10 năm đối với nhà tạm, vật kiến trúc khác;

25 năm đối với nhà một tầng mái ngói hoặc mái tôn, tường bao quanh xây gạch (không áp dụng cho nhà xưởng và kho thông dụng quy định tại bảng suất vốn đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng công bố);

30 năm đối với nhà xưởng và kho thông dụng quy định tại bảng suất vốn đầu tư xây dựng công trình do Bộ Xây dựng công bố;

50 năm đối với nhà 1,2,3 tầng, tường xây gạch, mái bằng bê tông cốt thép hoặc mái bằng bê tông cốt thép trên lợp tôn, lợp ngói;

60 năm đối với nhà 4-5 tầng trở lên;

20 năm đối với kho chứa, bể chứa, sân, đường nội bộ;

30 năm đối với kè, đập, cống, mương máng, bến cảng, ụ triền đà.

11. Sửa đổi tiêu đề điểm.2.4, khoản 2, Điều 9:

2.4. Đối với công trình phục vụ sản xuất kinh doanh trên đất phi nông nghiệp, đất nông nghiệp của các tổ chức và các công trình phục vụ sản xuất kinh doanh trên đất phi nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hợp đồng hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

12. Bổ sung vào đoạn 2 của điểm 2.4 khoản 2, Điều 9:

Đối với các công trình vật kiến trúc sau khi đã tính toán hỗ trợ mà mức hỗ trợ nhỏ hơn 30% giá trị xây mới và đang sử dụng ổn định thì tính bằng 30% giá trị xây mới.

13. Sửa đổi khoản 5 Điều 9 như sau:

5. Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình xây dựng phục vụ sản xuất trên đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.

5.1 Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình xây dựng trên đất thuê, đất giao có thời hạn theo hợp đồng hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền khi thu hồi trước thời hạn:

a. Đối với nhà chòi.

Nhà chòi là loại nhà tạm hoặc nhà xây, công trình xây dựng khác trên đất nông nghiệp để phục vụ trông coi bảo vệ sản xuất: chỉ bồi thường 100% giá trị xây dựng mới tính cho diện tích 1 chòi tối đa là 25m2. Diện tích đất đến 10 ha được tính 1 chòi; diện tích đất trên 10 ha đến 30 ha tính 2 chòi; diện tích đất trên 30 ha đến 50 ha tỉnh 3 chòi; diện tích đất trên 50 ha tính 4 chòi. Trường hợp do tính chất đặc thù của khu đất mà số lượng chòi trông coi ngoài quy định trên thì Tổ chức làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đề xuất Uỷ ban nhân dân cấp huyện xem xét quyết định cụ thể từng trường hợp.

Phần diện tích còn lại ngoài hạn mức trên (nếu có) do tự ý xây dựng hoặc do chính quyền địa phương cho phép xây dựng không đúng thẩm quyền: xét hỗ trợ 50% giá trị xây dựng mới. Trường hợp đã có Quyết định hoặc Biên bản yêu cầu đình chỉ xây dựng nhưng vẫn cố tình xây dựng: không bồi thường, hỗ trợ.

Diện tích nhà chòi quy định là diện tích xây dựng các công trình nhà trên đất, không kể các công trình khác phục vụ sản xuất như: bờ xây, bờ kè, lối đi, tường bao, tường rào.

b. Đối với các công trình phục vụ sản xuất khác, Tổ chức làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cấp huyện báo cáo Uỷ ban nhân dân cùng cấp căn cứ loại hình sản xuất tại địa phương, yêu cầu quy mô công trình phục vụ cho loại hình sản xuất đó để quyết định công trình có phù hợp với loại hình sản xuất hay không. Trường hợp phù hợp bồi thường 100% giá trị xây dựng mới, không phù hợp thì xem xét hỗ trợ tối đa không quá 50% giá trị xây dựng mới.

c. Khối lượng đất đào đắp ao, đầm, tôn dâng nền, vườn.

- Trường hợp được cấp có thẩm quyền cho phép đào đắp ao, đầm, tôn dâng nền, vườn: được bồi thường theo đơn giá quy định tại Biểu số 02 ban hành kèm theo Quy định này. Trường hợp do tính chất đặc biệt của khu đất mà việc đào đắp đất khó khăn hơn so với đào đắp các công trình cùng loại, chi phí đào đắp đất tương đương với đào đắp đối với công trình nhà ở, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư xác định từng trường hợp cụ thể báo cáo Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định cho phép áp dụng theo đơn giá đào đắp đất đối với các công trình dân dụng (theo tập đơn giá kiến trúc phục vụ công tác bồi thường, hỗ trợ do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành).

- Trường hợp không được cấp có thẩm quyền cho phép đào đắp ao, đầm, tôn dâng nền, vườn chỉ hỗ trợ kinh phí đào chuyển đi nơi khác, giá trị này được xác định theo thực tế đắp ao, đầm, tôn dâng nền, vườn.

- Trường hợp khối lượng đất đào nền, vườn đã được cấp có thẩm quyền xác nhận là khoản đầu tư đã tạo nên giá trị quyền sử dụng đất để tính trong tiền bồi thường, hỗ trợ về đất tại thời điểm theo quy định thì không bồi thường, hỗ trợ.

5.2. Nhà, công trình xây dựng trên đất thuê, đất giao có thời hạn theo hợp đồng hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền bị thu hồi khi đã hết thời hạn và công trình trên xây dựng trên đất khai hoang thì xem xét hỗ trợ tối đa không quá 70% mức bồi thường, hỗ trợ của công trình được quy định tại điểm 5.1 điều này.

5.3. Công trình làm nhà ở trái phép trên đất đủ điều kiện bồi thường về đất ở và xây dựng trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường 100% giá trị xây dựng mới; trường hợp xây dựng từ ngày 01/7/2004 thì được hỗ trợ theo quy định tại khoản 4 Điều 9 Quy định này.

14. Sửa đổi điểm 7.2 khoản 7, Điều 9:

7.2. Công trình xây dựng sau khi có hành lang lưới điện:

Nhà, công trình được phép xây dựng và tồn tại dưới hành lang lưới điện theo quy định của Pháp luật về bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp khi thu hồi đất được bồi thường, hỗ trợ như sau: Công trình được phép xây dựng không vi phạm hành lang lưới điện bồi thường 100% giá trị xây mới; Công trình được phép xây dựng nhưng vi phạm hành lang lưới điện: phần không vi phạm bồi thường 100% giá trị xây dựng mới công trình; phần vi phạm không bồi thường chỉ xét hỗ trợ bằng 80% giá trị xây dựng mới.

15. Sửa đổi, bổ sung điểm 2.1, khoản 2, Điều 12:

2.1. Hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm:

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được giao theo hạn mức tại địa phương, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 5 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm như sau:

Hỗ trợ bằng tiền bằng 2 lần giá đất nông nghiệp theo vị trí thửa đất cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp của địa phương tại thời điểm giao đất.

Đối tượng được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 1/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

16. Bổ sung điểm 2.3a và sửa đổi điểm 2.3 khoản 2 Điều 12 như sau:

2.3a. Cách xác định nhân khẩu, tỷ lệ % diện tích đất thu hồi để tính hỗ trợ như sau:

- Số nhân khẩu được hỗ trợ của hộ: bao gồm toàn bộ nhân khẩu trong hộ thực sống bằng nguồn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất được công an hộ khẩu và chính quyền cấp xã xác nhận. Trường hợp có hộ khẩu trong hộ, đã được giao đất nông nghiệp nhưng tại thời điểm quyết định thu hồi đất đang làm việc ở nơi khác mà nguồn sống chính vẫn từ sản xuất nông nghiệp tại địa phương, được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận thì được tính trong số nhân khẩu của hộ có đất bị thu hồi để hưởng hỗ trợ.

- Các trường hợp có hộ khẩu trong hộ, đã được giao đất nông nghiệp, nhưng tại thời điểm quyết định thu hồi đất, đang làm việc tại các tổ chức kinh tế, xã hội, lực lượng vũ trang (trừ diện nghĩa vụ quân sự) được hưởng lương, Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận nguồn sống chính không còn từ sản xuất nông nghiệp tại địa phương thì không được tính trong số nhân khẩu được hưởng hỗ trợ của hộ có đất bị thu hồi.

- Tỷ lệ % diện tích đất thu hồi được xác định trên cơ sở diện tích thu hồi của từng dự án so với tổng diện tích đất được giao theo hạn mức tại thời điểm giao đất nông nghiệp của địa phương. Trường hợp hộ gia đình bị thu hồi đất từ 2 dự án trở lên, nếu diện tích đất thu hồi tại dự án trước dưới 30% (chưa được hưởng hỗ trợ), khi thu hồi đất cho dự án sau thì diện tích thu hồi được tính cộng dồn của cả 2 dự án để tính tỷ lệ % diện tích đất thu hồi được hỗ trợ của dự án sau.

- Trường hợp dự án có quyết định thu hồi đất mà diện tích đất thu hồi của hộ gia đình cá nhân trên 30% và đã được tính hỗ trợ, nếu sau ít nhất 1 năm mà bị thu hồi tiếp thì cách xác định tỷ lệ diện tích thu hồi được tính như đoạn 3 điểm 2.3a khoản 2 điều 12 Quyết định 130/2010/QĐ-UBND.

- Đối với diện tích đất hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng do nhận chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, tặng cho, khai hoang có nguồn gốc là đất hợp pháp trước thời điểm có thông báo chủ trương thu hồi đất, được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận, nếu hộ gia đình, cá nhân được giao đất nông nghiệp còn thiếu hạn mức thì được cộng vào diện tích đất nông nghiệp giao còn thiếu để bồi thường, hỗ trợ; diện tích còn lại ngoài hạn mức giao đất nông nghiệp chỉ được xét bồi thường theo quy định. Trường hợp chưa có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã về việc chuyển nhượng, chuyển đổi, thừa kế, tặng cho, khai hoang thì tính bồi thường, hỗ trợ cho người dụng đất trước khi chuyển quyền sử dụng.

2.3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của nông, lâm trường khi Nhà nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường đang làm việc hoặc đã hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp thì được hưởng hỗ trợ bằng 100% mức đất nông, lâm nghiệp theo vị trí, tính theo diện tích đất thực tế thu hồi, nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông, lâm nghiệp tại địa phương.

17. Sửa đổi Điều 13 như sau: