vanban.org

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng ban hành kèm theo Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố như sau: — Quyết định 1263/2010/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 13/12/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 13/12/2014 Thay thế: 2680/2014/QĐ-UBND · 03/12/2014
Hải Phòng Ban hành 30/07/2010 Hiệu lực 09/08/2010 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 4 phiên bản · 16 năm
Quyết định số 24/2022/QĐ-UBND ban hành Quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 24/2022/QĐ-UBND
Quyết định số 2680/2014/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 2680/2014/QĐ-UBND
Quyết định số 1263/2010/QĐ-UBND Sửa đổi Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng kèm theo Quyết định 130/2010/QĐ-UBND · 1263/2010/QĐ-UBND
13/12/20142680/2014/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 09/08/2010Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1263/2010/QĐ-UBND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng ban hành kèm theo Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của Uỷ ban nhân dân thành phố như sau:

1. Sửa đổi khoản 2, Điều 5:

2. Đất nông nghiệp có một trong các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 3 Quy định này (đảợc hiểu là Quy định ban hành kèm theo Quyết định 130/2010/QĐ-UBND) thì được bồi thường theo giá đất nông nghiệp theo vị trí thửa đất.

2. Bổ sung điểm 5.5 vào khoảng 5, Điều 5:

5.5. Hỗ trợ ảnh hưởng do giảm giá trị sử dụng đất nông nghiệp (trừ diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản) khi thu hồi đất, mức hỗ trợ bằng 10% mức giá đất của thửa đất đó diện tích hỗ trợ được xác định từ chỉ giới thu hồi đất ra 10m.

3. Sửa đổi điểm 6.1, điểm 6.2 khoản 6 và khoản 7, Điều 5:

6.1. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng một thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông, có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định, khi Nhà nước thu hồi đất thì toàn bộ diện tích đất thu hồi được bồi thường theo giá đất vườn, ao quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Ngoài ra, còn được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở của thửa đất đó; diện tích hỗ trợ tính theo diện tích thực tế bị thu hồi nhưng không quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới.

6.2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong khu dân cư thuộc thị trấn, trong khu dân cư nông thôn được xác định theo ranh giới của thửa đất có nhà ở ngoài cùng của làng, thôn, xóm và các điểm dân cư riêng lẻ; trong địa giới hành chính phường; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư có đủ điều kiện bồi thường thì được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm của vị trí I, ngoài ra còn được hỗ trừ bằng 20% giá đất ở trung bình của khu vực. Diện tích được tính hỗ trợ không quá 05 lần hạn mức giao đất ở mới tại địa phương.

Việc xác định giá đất ở trung bình của khu vực có đất bị thu hồi để tính hỗ trợ cho đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, trong khu dân cư nông thôn được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng các mức giá đất ở trong chỉ giới khu vực đất thu hồi hoặc các mức giá của thửa đất ở liền kề theo quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Trường hợp trong chỉ giới khu vực đất thu hồi không có thửa đất ở hoặc không có đất ở liền kề thì giá đất ở trung bình được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng các mức giá đất ở trong bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành năm của tuyến đường, phố hoặc các thửa đất ở trong khu đất có mức giá khác nhau có khoảng cách gần nhất với khu đất bị thu hồi

Người sử dụng đất nông nghiệp đất vườn, ao đã được hỗ trợ theo quy định này thì không được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm theo quy định tại điểm 2.1 khoản 2 Điều 12 Quy định này.

7. Trường hợp thu hồi đất thuộc quỹ đất công ích 5% và diện tích ngoài hạn mức đất nông nghiệp được giao lâu dài mà chính quyền địa phương cấp xã đã tạm giao cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng thì bồi thường chi phí đầu tư vào đất cho người sử dụng đất bằng 50% mức giá đất nông nghiệp theo vị trí thửa đất; hỗ trợ 50% mức giá đất nông nghiệp theo vị trí thửa đất cho ngân sách cấp xã, tiền hỗ trợ được sử dụng theo quy định tại Điều 31 Nghị định 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.

4. Bổ sung thêm đoạn 2 vào câu mở đầu, Điều 6:

Trường hợp chỉ thu hồi một phần diện tích đất căn cứ thực trạng vị trí nhà và công trình phục vụ sinh hoạt trong cùng thửa đất được thể hiện trong trích đo thửa đất tại thời điểm thu hồi đất có xác nhận của chính quyền địa phương để xác định diện tích đất thu hồi là diện tích đất ở hay diện tích đất liền kề với đất ở là đất vườn, ao để thực hiện bồi thường, hỗ trợ theo mục đích, hiện trạng sử dụng đất.

5. Sửa đổi, bổ sung khoản 2, Điều 6:

2. Hạn mức (diện tích) sử dụng đất để tính bồi thường hỗ trợ và mức bồi thường đất ở 2.1. Hạn mức giao đất ở mới được áp dụng theo quy định tại Quyết định số 2430/QĐ- UB ngày 13/12/2000 của Uỷ ban nhân dân thành phố, cụ thể:

Đất ở khu vực nông thôn: 200 m2/hộ đối với hộ nông nghiệp; 120 m2/hộ đối với hộ phi nông nghiệp.

Đất ở khu vực đô thị: 100 m2/hộ.

2.2. Đối với những phường được thành lập từ các xã sau năm 1988 được áp dụng hạn mức đất ở như khu vực nông thôn quy định điểm 2.1 nêu trên.

2.3. Hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở được áp dụng theo Quy định về hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn ao liền kề trong cùng thửa đất có nhà ở của hộ gia đình, cá nhân ban hành kèm theo Quyết định số 1518/2006/QĐ-UB ngày 12/7/2006 của Uỷ ban nhân dân thành phố.

6. Sửa đổi điểm 3.1 khoản 3, Điều 6:

3.1. Đất ở có giấy tờ:

Đất ở có một trong trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản: 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và khoản 1 Điều 11 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ được bồi thường, hỗ trợ như sau:

a. Trường hợp giấy tờ ghi rõ ranh giới đất ở:

- Đất ở sử dụng trước ngày 15/10/1993 bồi thường 100% mức giá đất ở cho toàn bộ diện tích được ghi trên giấy tờ.

- Đất ở sử dụng trước ngày 15/10/1993, trên giấy tờ có xác định diện tích đất ở và đất vườn ao trong cùng thửa đất ở (không kể diện tích đó đã được xây nhà và các công trình phục vụ sinh hoạt hay chưa): Bồi thường cho diện tích đất ở được xác định trong giấy tờ bằng 100% mức giá đất ở. Diện tích đất vườn, ao (nếu có) được bồi thường hỗ trợ theo quy định tại điểm

6.1 khoản 6 Điều 5 Quy định này.

b. Trường hợp giấy tờ không xác định rõ ranh giới diện tích đất ở với đất vườn, ao liền kề trong cùng thửa đất có nhà ở được xác định như sau:

- Đối với đất sử dụng trước 18/12/1980 mà trong hồ sơ địa chính hoặc các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 điều 50 Luật đất đai có ghi nhận rõ ranh giới thửa đất ở (hoặc thổ cư) thì toàn bộ diện tích đó được xác định là đất ở theo quy định tại khoản 2 Điều 87 Luật Đất đai năm 2003, sửa đổi bổ sung năm 2009: được bồi thường 100% mức giá đất ở (bao gồm cả các trường hợp chuyển nhượng, cho tặng, thừa kế có xác nhận của chính quyền địa phương cấp xã).

- Đối với đất sử dụng trước 18/12/1980 trong trường hợp ranh giới thửa đất chưa được xác định trong hồ sơ địa chính hoặc trên các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật đất đai thì bồi thường 100% mức giá đất ở nhưng diện tích bồi thường không quá 5 lần hạn mức giao đất ở mới (kể cả các trường hợp chuyển nhượng, cho tặng, thừa kế có xác nhận của chính quyền địa phương cấp xã). Diện tích đất còn lại được bồi thường, hỗ trợ theo quy định về bồi thường, hỗ trợ đối với đất vườn, ao tại điểm 6.1 khoản 6 Điều 5 Quy định này.

- Đối với đất ở sử dụng từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004, diện tích đất ở được xác định để tính bồi thường áp dụng theo Quy định về hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở, đất vườn, ao liền kề trong cùng thửa đất có nhà ở của hộ gia đình, cá nhân ban hành kèm theo Quyết định số 1518/2006/QĐ-UB ngày 12/7/2006 của Uỷ ban nhân dân thành phố. Diện tích đất còn lại được bồi thường, hỗ trợ theo quy định về bồi thường, hỗ trợ đối với đất vườn, ao tại điểm 6.1 khoản 6 Điều 5 Quy định này.

c. Trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại Điều 47 Nghị định 84/2007/ND-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ.

7. Sửa đổi điểm 3.2 và bổ sung điểm 3.3, điểm 3.4 vào khoản 3, Điều 6:

3.2. Đất không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai, được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, mức bồi thường, hỗ trợ như sau:

a. Đất sử dụng trước ngày 15/10/1993:

- Đất đang sử dụng là đất có nhà ở không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ: Bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích thực tế sử dụng, tối đa bằng 01 lần hạn mức đất ở giao mới.

Diện tích đất còn lại được bồi thường theo giá đất vườn, ao quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm. Ngoài việc bồi thường còn được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở tại vị trí trong thửa đất cho diện tích thực tế sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích còn lại được hỗ trợ: 200.000đ/m2 với các huyện; 300.000đ/m2 với khu vực các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận, được quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tính theo diện tích thực tế sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới.

- Đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất ở cho diện tích đất đang sử dụng nhưng tối đa không quá 01 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích đất còn lại được hỗ trợ: 200.000đ/m2 tại các huyện; 300.000đ/m2 tại các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận, được quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ tính theo diện tích đất thực tế sử dụng nhưng không vượt quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới. Diện tích còn lại (nếu có) thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.

b. Đất sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004:

- Đất đang sử dụng là đất ở nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ - CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ thì được bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức đất ở giao mới và phải trừ tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Đối với phần diện tích vượt hạn mức đất ở và phần diện tích đất vườn ao trên cùng thửa đất không, được công nhận là đất ở thì được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.

- Đất đang sử dụng thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4, Điều 14, Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngay 25/5/2007 của Chính phủ không bồi thường về đất; chỉ hỗ trợ:200.000đ/m2 với các huyện; 300.000đ/m2 Với các quận; đối với các thửa đất ở bị thu hồi có mức giá từ 200.000đ/m2 trở xuống tại các huyện, từ 300.000đ/m2 trở xuống tại các quận quy định tại bảng giá đất do Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành hàng năm thì mức hỗ trợ bằng 80% mức giá của thửa đất đó; diện tích hỗ trợ tính theo diện tích đất sử dụng thực tế nhưng không vượt quá 02 lần hạn mức giao đất ở mới. Đối với diện tích còn lại (nếu có) thì được hỗ trợ bằng 50% mức giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1. Nếu đất đang sử dụng là đất có nhà ở mà người bị thu hồi đất không còn chỗ ở nào khác thì được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.

3.3. Đất được giao không đúng thẩm quyền

a. Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng đã nộp tiền sử dụng đất mà chưa được cấp giấy chứng nhận (kể cả đất có nhà ở hoặc chưa có nhà ở) thì được bồi thường, hỗ trợ như sau:

- Trường hợp sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 thì được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở cho diện tích bị thu hồi nằm trong diện tích được giao.

Trường hợp sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì được bồi thường 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức đất ở giao mới. Diện tích ngoài hạn mức giao đất ở mới được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp theo mức thu quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và được thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01 /10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

b. Đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng chưa nộp hoặc nộp chưa đủ tiền sử dụng đất (kể cả đất có nhà ở hoặc chưa có nhà ở) thì được bồi thường bằng 100% mức giá đất ở cho diện tích đất sử dụng trong hạn mức giao đất ở mới nhưng phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp (hoặc còn thiếu) theo mức thu quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP của Chính phủ và thực hiện theo quy định tại Điều 4 Thông tư số 14/2009 TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Diện tích còn lại được bồi thường theo giá đất trồng cây lâu năm tại vị trí 1.

c. Đất do các tổ chức quản lý để sản xuất kinh doanh, làm trụ sở (không phải là đất ở)

đã giao cho cán bộ, công nhân viên để làm nhà ở hoặc chuyển nhượng (kể cả đất có nhà, xưởng khi thanh lý, bán hóa giá) thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại điểm a, b mục

3.4. Bồi thường, hỗ trợ về đất đối với một số trường hợp khác:

a. Bồi thường, hỗ trợ nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước được thực hiện theo Điều 11 Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

b. Trường hợp thu hồi đất nông nghiệp được xác định là đất có nguồn gốc từ đất ở đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở đối sang, do địa phương vận động các hộ gia đình, cá nhân đổi cho địa phương để xây dựng các công trình công cộng:

- Diện tích đất ở, đất vườn, ao được xác định theo Quyết định số 1518/2006/QĐ-UBND ngày 12/7/2006 của Uỷ ban nhân dân thành phố.

- Đối với diện tích đất được xác định là đất ở hoặc đất vườn, ao thì được bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại điểm 3.1 khoản 3 Điều 6 Quy định này

c. Đất trưng dụng có thời hạn khi thi công làm công trình thủy lợi, làm đường ống xăng dầu gồm: Đất mượn để lấy đất đào, đắp, chứa đất bùn nạo vét công trình thủy lợi, làm đường ống xăng dầu không bồi thường về đất. Chủ đầu tư chịu trách nhiệm hỗ trợ chi phí cải tạo khôi phục hiện trạng sử dụng đất ban đầu, tính bằng 15% mức giá đất theo mục đích sử dụng đất. Trường hợp đặc biệt, tổ chức làm công tác bồi thường có trách nhiệm căn cứ thực tế ảnh hưởng để xác định, báo cáo Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định bồi thường, hỗ trợ cho phù hợp.

8. Sửa đổi, bổ sung điểm 1.1 khoản 1, Điều 8:

1.1. Đất được giao có thu tiền sử dụng đất hoặc có nguồn gốc được công nhận là đất ở (từ đường, nhà thờ họ) bồi thường bằng giao đất mới hoặc bằng tiền theo mức giá đất ở theo vị trí.

9. Bổ sung Điều 8a: