vanban.org

Điều 7. Trình tự, thủ tục hoà giải — Quyết định 1208/2006/QĐ- UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 03/09/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 03/09/2020 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 21/2020/QĐ-UBND · 24/08/2020
Cao Bằng Ban hành 29/06/2006 Hiệu lực 09/07/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 1208/2006/QĐ- UBND Về việc ban hành Quy định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực Đất Đai · 1208/2006/QĐ- UBND
03/09/202021/2020/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 09/07/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1208/2006/QĐ- UBND › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Trình tự, thủ tục hoà giải

1. Trước khi tiến hành hoà giải, cán bộ địa chính cấp xã phải thẩm tra xác minh tính giá trị pháp lý các tư liệu, tài liệu, giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất đối với phần đất đang tranh chấp. Các bên đương sự có nghĩa vụ cung cấp các giấy tờ tài liệu, chứng cứ chứng minh về nguồn gốc khu đất, quá trình quản lý và sử dụng, việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước.

2. Trong quá trình tiến hành hoà giải phải lập biên bản hoà giải ghi đầy đủ các ý kiến, các tài liệu, chứng cứ đã được các bên tranh chấp xuất trình, diện tích đất đang tranh chấp đã có hay chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bìa đỏ) hoặc một trong các loại giấy theo quy định tại khoản 1, 2 và 5 của Điều 50 Luật Đất đai năm 2003.

Trong trường hợp hoà giải thành thì bắt buộc phải có đủ chữ ký của các bên tranh chấp (nếu người tranh chấp không biết biết chữ thì cho điểm chỉ).

Trường hợp hoà giải không hành thì không bắt buộc phải có đầy đủ chữ ký của các bên tranh chấp.

Biên bản hoà giải thành được gửi cho các bên tranh chấp và được lưu giữ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

3. Đối với trường hợp hoà giải thành mà làm thay đổi hiện trạng, ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hoà giải thành đến Phòng tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.

Cơ quan tài nguyên và Môi trường, có trách nhiệm trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận quyền sử dụng đất theo nội dung biên bản hoà giải thành và cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

4. Trường hợp hoà giải không thành, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm giải thích, hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền (đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc gửi đơn đến Toà án nhân dân (đối với các tranh chấp về quyền sử dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật đất đai năm 2003 và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất).

5. Trường hợp không tiến hành hoà giải được tại UBND cấp xã do một trong các bên đương sự đã được UBND cấp xã mời đến lần thứ ba nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, thì UBND cấp xã lập biên bản hoà giải không thành và hướng dẫn cho bên đương sự có mặt gửi đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo như quy định tại khoản 4 điều 7 của quy định này.