vanban.org

Điều 6. Hoà giải tranh chấp đất đai — Quyết định 1208/2006/QĐ- UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 03/09/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 03/09/2020 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 21/2020/QĐ-UBND · 24/08/2020
Cao Bằng Ban hành 29/06/2006 Hiệu lực 09/07/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 1208/2006/QĐ- UBND Về việc ban hành Quy định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực Đất Đai · 1208/2006/QĐ- UBND
03/09/202021/2020/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 09/07/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 1208/2006/QĐ- UBND › Chương II › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Hoà giải tranh chấp đất đai

1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự nguyện và chủ động gặp gỡ nhau để hoà giải hoặc thông qua tổ hoà giải tại ở thôn, xóm, khu phố.

2. Nếu việc hoà giải ở cơ sở không thành thì các bên tranh chấp có quyền gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi có đất đang tranh chấp.

3. Trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn Uỷ ban nhân dân cấp xã phải thành lập Hội đồng tư vấn tiến hành hoà giải vụ việc.

Thành phần tham gia Hội đồng tư  vấn gồm có:

a) Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch UBND cấp xã là chủ tịch Hội đồng;

b) Đại diện Mặt trận Tổ quốc Việt nam cấp xã;

c) Đại diện Hội nông dân Việt nam cấp xã;

d) Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, bản đối với khu vực nông thôn.

e) Cán bộ Địa chính, cán bộ Tư pháp cấp xã.

Sự có của các bên tranh chấp là điều kiện bắt buộc trong một cuộc hoà giải.