vanban.org

Điều 21. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức có nối kết về Trung tâm Dữ liệu thành phố — Quyết định 12/2015/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 16/03/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 16/03/2026 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 26/2026/QĐ-UBND · 16/03/2026
Cần Thơ Ban hành 10/03/2015 Hiệu lực 20/03/2015 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 11 năm
Quyết định số 26/2026/QĐ-UBND Ban hành Quy chế quản lý, khai thác và vận hành Trung tâm dữ liệu thành phố Cần Thơ · 26/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND Ban hành quy chế quản lý, vận hành và khai thác trung tâm dữ liệu thành phố Cần Thơ · 12/2015/QĐ-UBND
16/03/202626/2026/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 20/03/2015Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 12/2015/QĐ-UBND › Chương III › Điều 21
Đọc toàn văn

Điều 21. Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức có nối kết về Trung tâm Dữ liệu thành phố

1. Mỗi cơ quan nhà nước, tổ chức có nối kết về Trung tâm Dữ liệu thành phố cử ít nhất một cán bộ có trình độ về công nghệ thông tin hoặc am hiểu về công nghệ thông tin, quản trị mạng giúp lãnh đạo cơ quan, tổ chức thực hiện công tác quản trị mạng (gọi tắt là Quản trị mạng cơ sở). Cán bộ này có nhiệm vụ triển khai công tác kỹ thuật quản trị mạng đối với hệ thống mạng cục bộ tại đơn vị tuân thủ theo các quy định của Trung tâm Dữ liệu thành phố để thống nhất về cấu trúc hạ tầng và cấu trúc vật lý của toàn bộ Hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng, kịp thời báo cáo các sự cố kỹ thuật để cơ quan vận hành Trung tâm Dữ liệu thành phố xử lý.

2. Thực hiện quy định quản lý về tài khoản thư điện tử, địa chỉ IP (Internet Protocol) và các giao thức kết nối hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng và có trách nhiệm tuân thủ các hướng dẫn, quy trình vận hành mạng cục bộ của Quản trị mạng cơ sở, các quy định về an toàn an ninh thông tin đối với hệ thống thiết bị mạng cục bộ của đơn vị.

3. Chịu trách nhiệm về nội dung, thông tin lưu trữ của đơn vị mình tại Trung tâm Dữ liệu thành phố theo đúng quy định pháp luật và có trách nhiệm sao lưu định kỳ dữ liệu của đơn vị, theo sự hướng dẫn của cơ quan vận hành.

4. Thực hiện các hướng dẫn, quy trình vận hành trong hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng của thành phố. Khi có thay đổi kết nối, cấu trúc mạng cục bộ của đơn vị phải thông báo với cơ quan vận hành để phối hợp triển khai đảm bảo an toàn và ổn định của hệ thống mạng.

5. Các cán bộ, công chức, viên chức ở các đơn vị chịu trách nhiệm về thông tin tài khoản, mật mã đăng nhập vào hệ thống; đồng thời, có trách nhiệm thay đổi ngay mật mã sau khi được đã được cơ quan vận hành cung cấp. Ngoài ra, không được tìm cách xâm nhập trái phép bằng bất cứ hình thức nào để truy nhập vào hệ thống mạng, ứng dụng của tổ chức, cá nhân khác (trừ các yêu cầu của cơ quan chức năng có thẩm quyền). Phối hợp với cán bộ kỹ thuật của cơ quan, đơn vị mình trong việc xử lý sự cố và xác nhận kết quả xử lý.

6. Khi có nhu cầu về các dịch vụ, hệ thống phần mềm của Trung tâm Dữ liệu thành phố (quy định tại Khoản 2 Điều 5) phục vụ hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin thì cơ quan, tổ chức phải gửi Đề nghị cung cấp dịch vụ, hệ thống phần mềm (theo Mẫu số 1) về Sở Thông tin và Truyền thông xem xét, cấp phát tài nguyên phù hợp với quy hoạch hạ tầng kỹ thuật chung của thành phố và phù hợp với công năng toàn hệ thống Trung tâm Dữ liệu.

7. Khi có sự cố về các thiết bị, phần mềm, dịch vụ kết nối vào hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng, dịch vụ của Trung tâm Dữ liệu thành phố thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm gửi Đề nghị khắc phục sự cố (theo Mẫu số 2) về Cơ quan vận hành Trung tâm Dữ liệu thành phố để được khắc phục hoặc được hướng dẫn thực hiện việc sửa chữa, bảo trì.

8. Nghiêm cấm các hoạt động truy cập Internet với nội dung phá hoại, đồi trụy, phản động, không phù hợp với thuần phong mỹ tục, vi phạm quy định về sử dụng Internet, thông qua đường truyền số liệu chuyên dùng, theo Điều 12 của Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Điều 5 của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng. Hiện tại, các điểm kết nối tại các sở, ban, ngành, Ủy ban nhân dân quận, huyện đã được đầu tư thiết bị định tuyến (router) để định tuyến các truy nhập Internet tại cơ quan đơn vị.

9. Hàng năm, báo cáo tình hình khai thác, sử dụng các dịch vụ Trung tâm Dữ liệu thành phố trong hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin tại đơn vị mình (chậm nhất vào ngày 30 tháng 11 hàng năm) gửi về Sở Thông tin và Truyền thông để tổng hợp, báo cáo, tham mưu, trình Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, chỉ đạo kịp thời.