vanban.org

Điều 8. Tổ chức quản lý các chương trình, dự án ODA — Quyết định 12/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/09/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/09/2018 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 13/2018/QĐ-UBND · 16/08/2018
Yên Bái Ban hành 15/04/2011 Hiệu lực 25/04/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy định về Quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại trên địa bàn tỉnh Yên Bái · 12/2011/QĐ-UBND
01/09/201813/2018/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 25/04/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 12/2011/QĐ-UBND › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Tổ chức quản lý các chương trình, dự án ODA

1. Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định thành lập Ban quản lý dự án và ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban quản lý dự án theo Thông tư số 03/2007/TT-BKH ngày 12/3/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý chương trình, dự án ODA (đối với các dự án hỗ trợ kỹ thuật) hoặc Chủ dự án quyết định thành lập Ban quản lý dự án và ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban quản lý chương trình, dự án (đối với các dự án đầu tư). Ban quản lý dự án có chức năng và nhiệm vụ được quy định tại Thông tư số 03/2007/TT-BKH ngày 12/3/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Ban quản lý chương trình, dự án ODA.

2. Nhiệm vụ của Ban quản lý các dự án tỉnh và Ban quản lý từng chương trình dự án sử dụng nguồn vốn vay của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) thực hiện theo hướng dẫn Thông tư số 09/2009/TT-BKH ngày 30/10/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

3. Đối với chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật, chương trình, dự án đầu tư quy mô nhỏ, đơn giản, có tổng mức vốn (kể cả vốn đối ứng) dưới 1 tỷ đồng (vốn tài trợ bằng ngoại tệ quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm xem xét thành lập Ban quản lý dự án) thì Chủ dự án có thể không lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý, điều hành thực hiện chương trình, dự án hoặc đối với chương trình, dự án đầu tư có thể thuê người có chuyên môn, kinh nghiệm để giúp quản lý, điều hành thực hiện chương trình, dự án.

4. Trong trường hợp có sự thay đổi giữa kỳ về chủ dự án:

a. Chủ dự án chuyển giao và chủ dự án tiếp nhận chương trình, dự án thực hiện thủ tục bàn giao theo quy định. Việc bàn giao phải đảm bảo không được làm gián đoạn quá trình đầu tư, gây ra chậm trễ đến việc giải quyết các công việc của dự án.

b. Chủ dự án chuyển giao chương trình, dự án ra quyết định giải thể Ban quản lý dự án.

C. Chủ dự án tiếp nhận chương trình, dự án ra quyết định thành lập Ban quản lý dự án.

d. Chủ dự án tiếp nhận chương trình, dự án phải chịu trách nhiệm kế thừa toàn bộ quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ dự án trước, trừ những trách nhiệm sai phạm của chủ dự án trước.

e. Trong quá trình bàn giao hoặc tổ chức các công việc tiếp theo của dự án nếu có vướng mắc, chủ dự án phản ánh kịp thời về Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế đối ngoại và Xúc tiến đầu tư để báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết.