vanban.org

Điều 23. Hạch toán viện trợ — Quyết định 12/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/09/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/09/2018 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 13/2018/QĐ-UBND · 16/08/2018
Yên Bái Ban hành 15/04/2011 Hiệu lực 25/04/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy định về Quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại trên địa bàn tỉnh Yên Bái · 12/2011/QĐ-UBND
01/09/201813/2018/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 25/04/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 12/2011/QĐ-UBND › Chương V › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23. Hạch toán viện trợ

1. Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền hoặc hiện vật từ các chương trình, dự án ODA, NGO, các tổ chức kinh tế, cá nhân người nước ngoài là nguồn thu của Ngân sách Nhà nước và phải được hạch toán đầy đủ, kịp thời vào Ngân sách Nhà nước. Trị giá hạch toán vào Ngân sách các cấp là trị giá bằng đồng Việt Nam được quy đổi từ nguyên tệ theo tỷ giá hạch toán do Bộ Tài chính công bố trong từng thời kỳ (trừ trường hợp nhà tài trợ đã quy định tỷ giá).

2. Sở Tài chính có trách nhiệm làm thủ tục hạch toán ghi thu, ghi chi qua Ngân sách của tỉnh các khoản viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân nước ngoài viện trợ trực tiếp cho tỉnh, huyện, xã.

3. Các chủ dự án khi nhận được các khoản viện trợ không hoàn lại phát sinh tại đơn vị mình, phải gửi báo cáo sử dụng vốn về Sở Tài chính để làm căn cứ ghi thu, ghi chi. Riêng đối với các dự án hoạt động trên địa bàn huyện, xã, chủ dự án phải gửi thêm một bộ báo cáo sử dụng vốn về Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện hoặc Ban Tài chính xã đó để theo dõi.