Điều 13. Vốn cho quản lý, bảo trì đường bộ được sử dụng vào những nội dung sau:
- Hoạt động quản lý nhà nước và phục vụ trong giao thông đường bộ, bao gồm: tổ chức theo dõi tình trạng kỹ thuật và quản lý công trình đường bộ; tổ chức giao thông đường bộ; kiểm tra, thanh tra việc bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; hoạt động của các trạm kiểm tra tải trọng xe, các trạm thu phí sử dụng đường bộ; hoạt động các bến phà, cầu phao có số thu không đủ chi thường xuyên; dự phòng các vật tư, thiết bị, phương tiện cho đảm bảo giao thông đường bộ; các hoạt động khác về quản lý nhà nước và phục vụ trong giao thông đường bộ.
- Công tác bảo trì đường bộ bao gồm:
+ Bảo dưỡng thường xuyên đường bộ;
+ Sửa chữa định kỳ (sửa chữa vừa và sửa chữa lớn) đường bộ;
+ Sửa chữa đột xuất đường bộ, khắc phục hậu quả thiên tai hoặc các nguyên nhân khác.
1. Vốn cho quản lý và sửa chữa thường xuyên:
Căn cứ yêu cầu của công tác sửa chữa thường xuyên gồm: Phát quang, cắt cỏ, bạt mái tà luy, vét rãnh, vệ sinh mặt đường, hệ đường... hót đất sụt lè tè, đắp phụ nền, lê đường, vá ô gà, xử lý cao su, sơn cọc tiêu, biển báo, vạch kẻ đường... khối lượng nhỏ theo định mức bảo dưỡng thường xuyên đường bộ.
Hàng năm Ủy ban nhân dân tỉnh bố trí dự toán ngân sách và giao kinh phí hỗ trợ cho công tác quản lý và sửa chữa thường xuyên theo định mức tỉnh cho từng loại: Đường tình, đường huyện, đường đô thị. Căn cứ số lượng ki lô mét từng loại đường của mỗi huyện, thị xã và định mức quy định, Ủy ban nhân dân tỉnh giao kế hoạch ngay từ đầu năm cho Sở Giao thông Vận tải (đối với hệ thống đường tình), Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã (đối với hệ thống đường huyện) và Sở Xây dựng (đối với hệ thống đường đô thị) để phân bổ vốn cho các đơn vị quản lý đường.
Trong quá trình thực hiện nếu có biến động về chính sách tiền lương, giá vật tư... do Nhà nước quy định làm ảnh hưởng đến định mức chi phí cho quản lý, duy tu bảo dưỡng thì Sở Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã lập phương án điều chỉnh trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
2. Vốn cho sửa chữa định kỳ
Căn cứ yêu cầu của công tác sửa chữa định kỳ gồm: Sơn các cầu thép; bảo dưỡng cầu treo, cầu phao, phà, ca nô, pu li cáp, bôi mỡ gối cầu; làng nhựa lớp 2, và ổ gà, xử lý cao su, tẩy lượn sóng mặt đường cấp phối, đường đất với khối lượng lớn ...theo quy định của Bộ Giao thông vận tải. Ngay từ đầu năm, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã chủ động lập Tờ trình gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt kế hoạch vốn và phê duyệt chủ trương đầu tư sửa chữa; các bước tiếp theo thực hiện như đòi với các công trình xây dựng cơ bản.
3. Vốn cho sửa chữa đột suất: Là công việc sửa chữa cấp thiết do lũ lụt, thiên tai hoặc sự cố làm hư hỏng cầu, đường. Công tác này phải được xử lý kịp thời với khả năng sẵn có của đơn vị trực tiếp quản lý, đồng thời báo cáo UBND tỉnh, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng để có biện pháp xử lý triệt để và trợ giúp nếu cần thiết. Việc điều tra, khảo sát thiệt hại công trình về chất lượng, khối lượng và lập biên bản xác nhận thiệt hại gồm đại diện các cơ quan: Sở Giao thông Vận tải, Sở Xây dựng, UBND cấp huyện, đơn vị quản lý đường. Công tác sửa chữa đột suất được đầu tư theo báo cáo phương án xử lý kỹ thuật được lập, qua Sở chuyên ngành thẩm định để trình Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt và cấp kinh phí, trong trường hợp cấp thiết phải đảm bảo giao thông, được phép vừa triển khai thi công vừa hoàn thành các thủ tục cần thiết để đảm bảo giao thông được an toàn, thông suốt.