Điều 4. Các bước hòa giải:
Việc hòa giải ở tổ hòa giải phải được tiến hành theo 3 bước sau:
1- Trước khi hòa giải:
Tổ viên Tổ hòa giải phải tìm hiểu, nắm chắc đối tượng, sự việc, nguyên nhân phát sinh tranh chấp, tham khảo ý kiến những người xung quanh (nếu cần) dự kiến thời gian, địa điểm, người tham gia hòa giải. Đối với những vụ xô xát, gây mất trật tự chung, nhắc nhở những người xung quanh không được kích động gây căng thẳng, dàn xếp ổn định trên tinh thần xây dựng. Trường hợp vụ việc phức tạp
phải hội ý trong tố’ hòa giải để đưa ra hướng hòa giải. Sau đó phân công cụ thể Tổ viên trong tổ hòa giải tiếp tục theo dõi, giải quyết tranh chấp.
2- Trong khi hòa giải:
Trong bước này, tổ viên tổ hòa giải có thể thực hiện những công việc sau:
- Trình bày tóm tắt nội dung sự việc đưa ra hòa giải.
- Giới thiệu những người có mặt trong cuộc hòa giải.
- Hướng dẫn các bên tranh chấp trình bày ý kiến của mình.
- Hòa giải viên trao đổi, phân tích vụ việc, làm rõ đúng sai, dựa vào quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức, phong tục tập quán để phân tích cho các bên thấy rõ lỗi của mình.
- Nắm chắc đặc điểm, tâm lý của từng đương sự cũng như tính chất vụ việc để áp dụng nghệ thuật hòa giải, tránh vội vàng nôn nóng "chụp mũ" hoặc làm tổn hại đến danh dự tự ái cá nhân của các bên.
- Khi hòa giải chủ yếu dùng tình cảm, uy tín, lẽ phải, các quy định của pháp luật để thuyết phục các bên, không nên hình thức, phức tạp hóa trong khâu tổ chức thực hiện.
- Hòa giải viên mời người làm chứng, người đại diện các tổ chức hoặc người cao tuổi, có uy tín, có kinh nghiệm trong cuộc sống tham gia hòa giải phát biểu ý kiến.
- Các ý kiến trao đổi trong cuộc hòa giải phải tạo ra thân mật, thành thật, chân thành trên cơ sở "tình làng nghĩa xóm" không lấy biểu quyết hoặc áp lực, áp đặt thỏa thuận của các bên.
- Việc hòa giải phải lập thành biên bản, tùy theo vụ việc đưa ra hòa giải phức tạp hay đơn giản hoặc theo yêu cầu của các bên. Biên bản hòa giải phải ghi lại toàn bộ diễn biến cuộc hòa giải và kết quả hòa giải, có chữ ký (hoặc điểm chỉ) của các bên tham gia hòa giải,
người làm chứng, người có quyền và nghĩa vụ liên quan (nếu có) người chủ trì cuộc hòa giải... .
- Người chủ trì hòa giải phải có ý kiến kết luận, quyết định về vụ hòa giải.
3- Sau khi hòa giải:
Trong bước này người tiến hành hòa giải có thể thực hiện các công việc sau:
- Nếu vụ việc hòa giải thành: cần đi lại động viên, thăm hỏi các bên và nhắc nhở các bên thực hiện cam kết của mình; tạo điều kiện để họ thực hiện tốt cam kết. Có thể biểu dương động viên kịp thời việc thực hiện các cam kết của các bên trong các cuộc họp khóm, ấp, tổ tự quản...
- Nếu vụ việc hòa giải không thành thì tổ hòa giải cần dàn xếp ổn định và hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
- Việc hòa giải thành hoặc không thành người trực tiếp hòa giải cũng cần ghi chép vào sổ công tác về vụ việc hòa giải, để phục vụ cho việc thống kê báo cáo và tổ chức hội ý rút kinh nghiệm trong tổ hoặc dễ xin ý kiến chỉ đạo của Ban tư pháp.
4- Một số chú ý khi tiến hành hòa giải:
Ngoài những nội dung trên đây, khi hòa giải ở cơ sở, người hòa giải cần chú ý một số điểm sau:
- Cần thường xuyên nắm tình hình để kịp thời phát hiện và có các biện pháp thích hợp để ngăn chặn các vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nội bộ dân cư.
- Cần tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các cá nhân, tổ chức có liên quan đến vụ việc hòa giải, đặc biệt là những người có vai trò quan trọng và uy tín cao trong gia đình, họ tộc và trong các cộng đồng dân cư.
- Chỉ được vận dụng các phong tục tập quán tốt đẹp vào việc hòa giải khi các phong tục tập quán đó không trái với những quy định của Đảng và nhà nước.
- Thời gian hòa giải ở cơ sở không quá 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận vụ việc.