Điều 13. Soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của UBND thành phố
1. Tùy theo tính chất và nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, UBND thành phố phân công cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản.
2. Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của UBND thành phố có nhiệm vụ sau đây:
a) Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương liên quan đến dự thảo; nghiên cứu đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu có liên quan đến dự thảo;
b) Chuẩn bị đề cương, xây dựng và chỉnh lý dự thảo; xác định văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản dự kiến sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ;
c) Tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản trong phạm vi và với hình thức quy định tại Điều 14 Quy định này; tổng hợp và nghiên cứu tiếp thu ý kiến để chỉnh lý dự thảo;
d) Chuẩn bị Tờ trình và tài liệu liên quan đến dự thảo. Tờ trình phải nêu rõ sự cần thiết ban hành văn bản, quá trình xây dựng dự thảo, nội dung chính của dự thảo, những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau;
đ) Giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp và hoàn chỉnh dự thảo trình UBND thành phố.
3. Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của UBND thành phố chịu trách nhiệm trước Chủ tịch UBND thành phố về chất lượng của dự thảo văn bản và tiến độ soạn thảo. Định kỳ báo cáo Chủ tịch UBND thành phố về tiến độ xây dựng dự thảo và kịp thời xin ý kiến về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, những vấn đề phát sinh trong quá trình soạn thảo.
4. Trong trường hợp văn bản soạn thảo có nội dung phức tạp hoặc liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực hoặc điều chỉnh những vấn đề mới, Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật của UBND thành phố thành lập Tổ soạn thảo. Tổ soạn thảo do đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo làm tổ trưởng, thành viên tham gia là đại diện Sở Tư pháp và các ngành, địa phương có liên quan.