Điều 11. Cuộc họp Hội đồng quản trị
1. Hội đồng quản trị phải họp định kỳ ít nhất mỗi quý một lần và có thể họp bất thường theo đề nghị của:
a) Chủ tịch Hội đồng quản trị;
b) Hai phần ba thành viên Hội đồng quản trị trở lên;
c) Trưởng Ban kiểm soát;
d) Hai phần ba thành viên Ban kiểm soát trở lên;
đ) Những người khác do Điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần quy định;
e) Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi Ngân hàng thương mại cổ phần đặt trụ sở chính.
2. Cuộc họp Hội đồng quản trị được tiến hành khi có từ hai phần ba số thành viên Hội đồng quản trị trở lên tham dự. Mỗi thành viên Hội đồng quản trị có một phiếu biểu quyết. Quyết định của Hội đồng quản trị được thông qua nếu được đa số thành viên dự họp chấp thuận. Trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định cuối cùng thuộc về phía có ý kiến của Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị được Chủ tịch Hội đồng quản trị uỷ quyền chủ toạ cuộc họp (trường hợp Chủ tịch Hội đồng quản trị vắng mặt).
3. Chủ tịch Hội đồng quản trị triệu tập họp Hội đồng quản trị. Thủ tục triệu tập và tổ chức họp Hội đồng quản trị do Điều lệ Ngân hàng thương mại cổ phần quy định.
4. Trường hợp triệu tập họp Hội đồng quản trị định kỳ lần đầu nhưng không đủ số thành viên tham dự theo quy định, Chủ tịch Hội đồng quản trị phải triệu tập tiếp cuộc họp Hội đồng quản trị lần hai trong thời gian không quá 15 ngày tiếp theo. Sau hai lần triệu tập họp Hội đồng quản trị không đủ số thành viên tham dự, Chủ tịch Hội đồng quản trị phải triệu tập Đại hội đồng cổ đông bất thường trong thời hạn không quá 30 ngày tiếp theo để cổ đông xem xét tư cách của các thành viên Hội đồng quản trị.
5. Cuộc họp Hội đồng quản trị phải được ghi đầy đủ vào sổ biên bản. Chủ toạ và thư ký phải liên đới chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Biên bản họp Hội đồng quản trị.