Điều 4. Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất lâm nghiệp
Sửa đổi bởi 934/2013/QĐ-UBND · hiệu lực 22/05/20131.1. Hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất.
- Điều kiện để được nhận hỗ trợ: Hộ gia đình, cộng đồng, nhận khoán bảo vệ rừng đối với rừng đặc dụng, phòng hộ, rừng tự nhiên là rừng sản xuất có trữ lượng giàu, trung bình nhưng đang đóng cửa rừng. Những diện tích rừng trồng đã được công nhận thành rừng sau khi trồng chăm sóc bảo vệ tốt, rừng hàng năm không bị xâm hại về trữ lượng, diện tích rừng, rừng được nghiệm thu theo quy định hiện hành, biên bản nghiệm thu là căn cứ để hỗ trợ cho các chủ hộ, cộng đồng.
- Mức hỗ trợ: Hộ gia đình, cộng đồng nhận khoán được hưởng tiền khoán bảo vệ rừng với mức 200.000 đồng/ha/năm, từ nguồn TW bổ sung có mục tiêu kinh phí sự nghiệp.
1.2. Hỗ trợ lần đầu giống cây lâm nghiệp trồng rừng sản xuất
- Điều kiện hỗ trợ: Đã được Nhà nước quy hoạch là đất lâm nghiệp hoặc được giao đất lâm nghiệp. Rừng sau khi trồng có tỷ lệ cây sống đạt 85% trở lên và được nghiệm thu theo quy định hiện hành.
- Mức hỗ trợ: Đối với địa bàn xã đặc biệt khó khăn mức 5 triệu đồng/ha; đối với xã còn lại mức 4 triệu đồng/ha.
- Phương thức hỗ trợ: Được thanh toán sau khi có biên bản nghiệm thu.
- Kinh phí thanh toán căn cứ dự toán đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt và bố trí từ nguồn Chương trình bảo vệ và phát triển rừng TW bổ sung có mục tiêu.
1.3. Hỗ trợ hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, đươc giao rừng và giao đất trồng rừng sản xuất.
a) Trợ cấp lương thực trong thời gian chưa tự túc được lương thực
- Điều kiện trợ cấp: Chưa tự túc được lương thực và chưa được hưởng trợ cấp lương thực từ nguồn khác; chỉ trợ cấp cho những tháng thực sự thiếu lương thực. Trường hợp cộng đồng nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, được giao rừng và giao đất trồng rừng sản xuất, trong đó có hộ nghèo tham gia thì chỉ hỗ trợ đối với hộ nghèo.
- Thời gian trợ cấp: Tối đa là 7 năm, mỗi năm trợ cấp theo tháng thiếu lương thực nhưng tối đa không quá 5 tháng/năm.
- Mức trợ cấp từ chương trình 30a (sau khi trừ đi số lương thực đã được trợ cấp cứu đói giáp hạt, cứu đói dịp tết).
- Nguồn vốn được bố trí từ nguồn ngân sách TW bổ sung có mục tiêu kinh phí sự nghiệp.
Đối với hộ nghèo thuộc 4 huyện: Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ (hỗ trợ lương thực lồng ghép cùng Dự án 4 huyện vùng cao): Các hộ nghèo tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, trồng rừng sản xuất được hưởng lương thực từ dự án 4 huyện vùng cao nếu số lương thực này thấp hơn định mức lương thực được hỗ trợ theo chính sách Nghị quyết 30a (15kg/khẩu/tháng thiếu lương thực) thì được hỗ trợ bổ sung đủ số lương thực theo chính sách nghị quyết 30a.
Trường hợp các hộ nghèo tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, trồng sản xuất được hưởng lương thực từ dự án 4 huyện vùng cao nêu số lương thực này cao hơn định mức lương thực được hỗ trợ theo chính sách Nghị quyết 30a (15kg/khẩu/tháng thiếu lương thực) thì chỉ được hưởng lương thực từ dự án 4 huyện vùng cao.
Đối với hộ nghèo thuộc huyện Hoàng Su Phì và Xín Mần tham gia nhận chăm sóc, bảo vệ rừng, được giao rừng và trồng rừng sản xuất trợ cấp mức 15kg/khẩu/tháng.
b) Hỗ trợ một lần cho hộ nghèo tận dụng đất sản xuất lương thực trong khu vực diện tích rừng nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng và đất được giao để trồng rừng sản xuất.
- Điều kiện hỗ trợ: Được cán bộ chuyên môn cấp xã xác định đủ điều kiện sản xuất lương thực; phù hợp với Quy chế quản lý rừng hiện hành và chủ hộ báo cáo với Uỷ ban nhân dân cấp xã để tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện xem xét hỗ trợ.
- Mức hỗ trợ 5 triệu đồng/ha/hộ, từ nguồn vốn đầu tư phát triển ngân sách Trung ương bổ sung có mục tiêu cho các huyện nghèo 30a.
1.4. Hỗ trợ lãi suất tiền vay phát triển sản xuất lâm nghiệp
- Hộ nghèo có nhu cầu vay vốn trồng rừng sản xuất, được hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại Ngân hàng thương mại nhà nước. Thời gian hỗ trợ lãi suất tối đa 7 năm.
- Thủ tục vay theo quy định của ngân hàng. Ngân sách Trung ương cấp bù chênh lệch lãi suất tiền vay trực tiếp cho Ngân hàng thương mại nhà nước.