Điều 10. Xử lý nợ bị rủi ro
1. Đối với các khoản nợ bị rủi ro do nguyên nhân khách quan: Đối tượng được xem xét xử lý rủi ro, nguyên nhân khách quan làm thiệt hại trực tiếp đến vốn và tài sản của khách hàng, biện pháp xử lý, hồ sơ pháp lý để xem xét xử lý nợ bị rủi ro được áp dụng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội.
2. Đối với các khoản nợ bị rủi ro ngoài phạm vi đối tượng và nguyên nhân khách quan được xem xét xử lý rủi ro theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế xử lý nợ bị rủi ro tại Ngân hàng Chính sách xã hội thì thực hiện theo quy định của Hội đồng nhân dân tỉnh.
3. Thẩm quyền xem xét, xử lý nợ bị rủi ro do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định.
4. Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc xử lý nợ bị rủi ro.
a) Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh chịu trách nhiệm tổng hợp, phân tích, phân loại các khoản nợ bị rủi ro; kiểm tra hồ sơ, chứng từ và chịu trách nhiệm về tính đầy đủ, chính xác, hợp pháp của hồ sơ đề nghị xử lý nợ bị rủi ro; có văn bản đề nghị xử lý nợ bị rủi ro gửi Sở Tài chính kèm theo hồ sơ có liên quan để tổng hợp, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định theo thẩm quyền.
b) Trên cơ sở hồ sơ và đề nghị của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan rà soát các nội dung thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao, tổng hợp, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định theo thẩm quyền.
5. Nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro được sử dụng từ Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng đã được Ngân hàng Chính sách xã hội trích lập đối với cho vay người nghèo và các đối tượng chính sách khác từ nguồn vốn ngân sách địa phương.
6. Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng không đủ bù đắp, tùy theo tình hình thực tế của các khoản vay bị rủi ro, trên cơ sở đề nghị của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh, Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với các sở, ngành có liên quan và Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh bổ sung ngân sách tỉnh để xử lý hoặc giảm trực tiếp vào nguồn vốn ủy thác của ngân sách tỉnh chuyển qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh.
7. Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng sau khi được sử dụng để xử lý xóa nợ bị rủi ro lớn hơn số dư Quỹ dự phòng rủi ro tối đa thì phần chênh lệch được bổ sung vào nguồn vốn ủy thác để cho vay theo quy định.