Điều 27. Hội đồng định giá tài sản
1. Hội đồng định giá:
Hội đồng định giá được quy định tại Khoản 2 Điều này. Việc xác định giá khởi điểm của tài sản để bán đấu giá phải được lập thành biên bản. Biên bản định giá được giao cho mỗi cơ quan liên quan giữ 01 bản để theo dõi việc xử lý tài sản bán đấu giá.
2. Thành lập Hội đồng định giá:
a) Hội đồng định giá tài sản do người có thẩm quyền của cơ quan cấp tỉnh ra quyết định tịch thu gồm:
Người có thẩm quyền quyết định tịch thu làm Chủ tịch Hội đồng.
Các thành viên của Hội đồng bao gồm: Đại diện Sở Tài chính, Sở Tư pháp, các cơ quan chuyên môn có liên quan.
b) Hội đồng định giá tài sản do người có thẩm quyền của cơ quan cấp huyện và cấp xã ra quyết định tịch thu, gồm:
Người có thẩm quyền ra quyết định tịch thu làm Chủ tịch Hội đồng.
Các thành viên của Hội đồng bao gồm: Đại diện Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Tư pháp, đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan (đối với cấp huyện); Công chức Tài chính - kế toán, Tư pháp - hộ tịch và đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan (đối với cấp xã).
Các thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng quyết định căn cứ vào tính chất, đặc điểm của tài sản cần định giá.
c) Trường hợp người ra quyết định tịch thu tài sản là Chủ tịch UBND tỉnh, hoặc Chủ tịch UBND cấp huyện, thì cơ quan tham mưu ra quyết định tịch thu là Chủ tịch Hội đồng.
3. Nguyên tắc hoạt động và chế độ tài chính:
a) Nguyên tắc hoạt động và chế độ tài chính của Hội đồng định giá tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 8, 9 Thông tư số 137/2010/TT-BTC.
b) Hội đồng định giá có thể thuê các tổ chức có chức năng định giá hoặc thẩm định giá xác định giá khởi điểm để xem xét, tham khảo trước khi quyết định. Chi phí cho việc định giá, thuê các tổ chức có chức năng định giá, thẩm định giá được thanh toán từ số tiền bán đấu giá tài sản thu được.