Điều 23. Vườn quốc gia Núi Chúa
1. Chịu trách nhiệm về quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển Khu bảo tồn biển theo Quy chế này và các quy định khác của pháp luật; nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh ranh giới các vùng chức năng của Khu bảo tồn biển; lập bản đồ và tổ chức đánh dấu trên thực địa; tổ chức các hoạt động quản lý, bảo tồn, tái tạo các loài động vật, thực vật thủy sinh và duy trì diễn thế tự nhiên các hệ sinh thái trong Khu bảo tồn biển; thực hiện các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm, giám sát và ngăn chặn các hành vi xâm hại đến Khu bảo tồn biển; tổ chức quan trắc định kỳ, báo cáo cơ quan có thẩm quyền về tình trạng đa dạng sinh học và chất lượng môi trường trong phạm vi Khu bảo tồn biển; tổ chức giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học cho các bên liên quan và cộng đồng cư dân sống trong và xung quanh Khu bảo tồn biển; đề xuất các cấp có thẩm quyền về cơ chế, chính sách và tổ chức thực hiện các hoạt động nhằm cải thiện sinh kế của cộng đồng dân cư sống trong và xung quanh Khu bảo tồn biển; xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý định kỳ hàng năm, năm năm, mười năm.
2. Tiến hành các hoạt động nghiên cứu, điều tra, khảo sát để thực hiện nhiệm vụ quy định tại khoản 1 Điều này; tổ chức phối hợp với lực lượng tuần tra giám sát và lập biên bản các hành vi vi phạm Quy chế này trong Khu bảo tồn biển để chuyển cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật; liên kết, liên doanh với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện các hoạt động dịch vụ du lịch, phục vụ các hoạt động được phép trong Khu bảo tồn biển quy định tại Quy chế này và các quy định pháp luật có liên quan; tổ chức thu, quản lý, sử dụng phí theo quy định của pháp luật; tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế để bảo vệ và phát triển các giá trị bảo tồn theo quy định của pháp luật hiện hành; tham gia thẩm định các dự án phát triển kinh tế - xã hội có liên quan và ảnh hưởng đến Khu bảo tồn biển.