Điều 12. Bảo tồn cảnh quan, hệ động, thực vật trên cạn
1. Cảnh quan tự nhiên, hệ động thực vật trên cạn thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa quản lý được bảo vệ theo Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Quyết định số 82/2008/QĐ-BNN ngày 17 tháng 07 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc công bố Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy tuyệt chủng ở Việt Nam cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển. Nghiêm cấm các hoạt động gây ô nhiễm môi trường, hủy hoại các cảnh quan môi trường tự nhiên, hệ động, thực vật, bãi đẻ của rùa biển.
2. Hoạt động nghiên cứu, khảo sát, tham quan du lịch, dịch vụ du lịch, nuôi trồng, ươm giống thủy hải sản của các tổ chức, cá nhân phải tuân thủ quy chế quản lý, chịu sự hướng dẫn, giám sát của Vườn quốc gia Núi Chúa.
3. Vườn quốc gia Núi Chúa có trách nhiệm nghiên cứu, theo dõi, bảo vệ bãi đẻ và cứu hộ rùa biển, xây dựng cơ sở dữ liệu để quản lý, bảo tồn rùa biển; nghiên cứu, quy hoạch các khu vực thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, phát triển hệ sinh thái, các hoạt động phục vụ công tác bảo tồn, hoạt động văn hóa tín ngưỡng, hoạt động du lịch để tổ chức quản lý, sử dụng đúng mục đích (trừ diện tích đất quốc phòng thực hiện theo quy chế quản lý đất quốc phòng); xây dựng chương trình, kế hoạch, dự án bảo tồn, phát triển các hệ sinh thái, ưu tiên phát triển trồng rừng để bảo vệ bờ biển và điều hoà khí hậu.