Điều 6. Rừng trồng phòng hộ và rừng trồng sản xuất được hỗ trợ đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước
1. Rừng trong giai đoạn đầu tư chăm sóc và đạt tiêu chí thành rừng theo quy định
a) Xác định tài sản: Xác định tiêu chí thành rừng theo quy định.
b) Chính sách bồi thường: Chủ rừng được bồi thường toàn bộ chi phí chủ rừng đã đầu tư. Chi phí chủ rừng đã đầu tư được xác định bằng tổng mức đầu tư (tính theo định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá từng thời điểm) trừ đi số kinh phí Nhà nước đã đầu tư theo dõi trên sổ kế toán.
2. Rừng hết giai đoạn đầu tư chăm sóc, chưa đến tuổi khai thác và đạt tiêu chí thành rừng theo quy định
a) Xác định tài sản: Kiểm kê, xác định khối lượng, giá trị lâm sản theo giá bán cây đứng.
b) Chính sách bồi thường:
Nếu giá trị lâm sản cây đứng nhỏ hơn hoặc bằng chi phí đầu tư của chủ rừng: Chủ rừng được bồi thường toàn bộ kinh phí chủ rừng đã đầu tư của lô rừng thu hồi, chi phí này được tính theo Điểm b Khoản 1 Điều này.
Nếu giá trị lâm sản cây đứng lớn hơn chi phí đầu tư của chủ rừng: Chủ rừng được bồi thường giá trị bằng tiền tương đương với giá trị lâm sản cây đứng của lô rừng thu hồi.
3. Tổ chức, hộ gia đình đầu tư trồng rừng nhưng không đạt tiêu chí thành rừng
a) Xác định tài sản: Kiểm kê, xác định đường kính và chiều cao cây rừng.
b) Chính sách bồi thường:
Chủ rừng được bồi thường thiệt hại để giải phóng đất giao cho các hộ tái định cư để tổ chức quản lý sử dụng ổn định vào mục đích phát triển lâm nghiệp.
Xác định kinh phí bồi thường thiệt hại theo đơn giá bồi thường thiệt hại về tài sản (vật kiến trúc, cây trồng, vật nuôi) gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế theo quy định của pháp luật trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã được Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm, trừ đi các khoản chủ rừng phải trả cho ngân sách Nhà nước theo quy định (nếu có).