Điều 12. Quyết định thanh lý tài sản nhà nước
1. Các trường hợp thanh lý tài sản nhà nước:
- Tài sản đã sử dụng vượt quá thời gian sử dụng theo quy định mà không thể tiếp tục sử dụng;
- Bị hư hỏng không thể sử dụng được hoặc việc sửa chữa không có hiệu quả;
- Trụ sở làm việc hoặc tài sản khác gắn liền với đất phải phá dỡ theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải phóng mặt bằng thực hiện dự án đầu tư, giải phóng mặt bằng theo quy hoạch và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Giám đốc Sở Tài chính quyết định thanh lý tài sản là nhà, vật kiến trúc gắn liền với đất (không bao gồm quyền sử dụng đất); xe ô tô các loại và các tài sản khác có nguyên giá theo sổ sách kế toán từ 500 triệu đồng trở lên trên một đơn vị tài sản.
3. Đối với các tài sản khác (không thuộc Khoản 2 Điều này).
a) Các sở, ban, ngành, đoàn thể quyết định thanh lý tài sản cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thanh lý tài sản cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc cấp huyện quản lý (kể cả đơn vị cấp xã).
4. Đối với các tài sản là máy móc, thiết bị làm việc và các động sản khác (không thuộc Khoản 2, Khoản 3 Điều này) tại các đơn vị sự nghiệp công lập được mua sắm bằng nguồn kinh phí từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ phúc lợi; các nguồn vốn huy động, liên doanh, liên kết theo quy định của pháp luật:
Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập quyết định thanh lý tài sản do mình được mua sắm.