Điều 5. Công tác quản lý thu, chi nguồn thuỷ lợi phí:
1. Việc lập dự toán, cấp phát, thanh quyết toán khoản cấp bù thuỷ lợi phí được miễn; việc hỗ trợ tài chính để thực hiện xử lý xoá nợ đọng thuỷ lợi phí và lỗ do nguyên nhân khách quan đối với các đơn vị làm nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi được thực hiện theo Thông tư số 26/2008/TT-BTC.
2. Các Đơn vị quản lý thủy nông phải ký kết hợp đồng tưới nước, tiêu nước, cấp nước hoặc lập sổ bộ tưới nước, tiêu nước, cấp nước ngay từ đầu vụ sản xuất với tổ chức, cá nhân làm dịch vụ hoặc sử dụng nước từ các công trình thuỷ lợi và thanh lý hợp đồng theo đúng quy định. Phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn lập sổ bộ tưới tiêu nước, thu tiền nước đối với từng tổ chức, cá nhân sử dụng nước làm cơ sở cho việc ký kết hợp đồng sử dụng nước và cấp bù do miễn thu thuỷ lợi phí theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 21 Nghị định số 143/2003/NĐ-CP.
3. Các tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng miễn thuỷ lợi phí khi sử dụng nước từ các công trình thuỷ lợi phải trả đầy đủ thuỷ lợi phí, tiền nước cho đơn vị quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi thời gian một tháng sau khi thu hoạch xong; nếu trả chậm thì phải chịu lãi suất trả chậm theo lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại thời điểm thanh toán cho doanh nghiệp nhà nước khai thác công trình thuỷ lợi, tổ chức hợp tác dùng nước trên số tiền thuỷ lợi phí còn nợ.
4. Đối với các công trình thuỷ lợi có sử dụng vốn vay để đầu tư thực hiện kiên cố hoá kênh mương, hàng năm đơn vị quản lý thủy nông căn cứ vào hợp đồng tín dụng (hoặc hợp đồng vay ngân sách để kiên cố hoá hệ thống kênh mương) lập kế hoạch trả nợ tiền vay từ nguồn thuỷ lợi phí hàng năm.
5. Kết thúc vụ sản xuất sau 01 tháng các Đơn vị quản lý thuỷ nông phải báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã tình hình chi thuỷ lợi phí và kinh phí cấp bù thuỷ lợi phí trong năm.
Trước ngày 31 tháng 3 năm sau phải hoàn thành quyết toán kinh phí cấp bù thuỷ lợi phí, chi thuỷ lợi phí năm trước gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện thẩm định, tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã gửi Sở Tài chính kiểm tra, tổng hợp vào báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách địa phương, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh phê chuẩn.
6. Các đơn vị quản lý thuỷ nông có trách nhiệm đôn đốc và tổ chức thực hiện việc thu nộp thuỷ lợi phí, tiền nước đối với các tổ chức, cá nhân có sử dụng nước từ các công trình thuỷ lợi (thuộc diện không được miễn thu) đảm bảo kế hoạch đề ra. Trong mỗi vụ sản xuất, việc thực hiện thu không đảm bảo kế hoạch (sau khi đã trừ đi các khoản miễn, giảm theo chế độ) phải cắt giảm nhiệm vụ chi tương ứng đối với chi phí quản lý, điều hành. Có quyền khiếu kiện tại Toà án nhân dân huyện, thị xã giải quyết các trường hợp tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi cố tình không trả hoặc trả không đủ thuỷ lợi phí, tiền nước theo hợp đồng đã ký.
7. Các đơn vị quản lý thuỷ nông phải mở tài khoản giao dịch tại Kho bạc nhà nước nơi đóng trụ sở để quản lý nguồn thuỷ lợi phí theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước; thực hiện quản lý, sử dụng nguồn thuỷ lợi phí theo đúng chế độ tài chính, kế toán hiện hành và thực hiện chế độ công khai nguồn thuỷ lợi phí theo quy định.