vanban.org

Điều 4. Về thu - chi ngân sách : — Quyết định 06/2001/QĐ-UB

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 31/12/2001
Đà Nẵng Ban hành 18/01/2001 Hiệu lực 18/01/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 06/2001/QĐ-UB › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Về thu - chi ngân sách :

1. Về phân cấp ngân sách :

Ngoài các khoản thu và nhiệm vụ chi ngân sách đã phân cấp cho các quận, huyện năm 2000. Từ năm 2001, các quận, huyện cần lưu ý khi thực hiện điều hành dự toán ngân sách như sau:

1.1. Về các khoản thu thuế:

a) Đối với các khoản thu từ doanh nghiệp kinh doanh vàng, cầm đồ, hợp tác xã và các hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khâu trừ do Chi cục thuế quản lý thu thì ngân sách quận, huyện được hưởng theo tỷ lệ phân chia phần trăm đã quy định.

b) Đôi với các khoản thu phạt trên lĩnh vực thuế do Chi cục thuế quản lý và thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất trong nước từ mặt hàng bài lá, vàng mã, kinh doanh vũ trường, massage, karaoke của các doanh nghiệp do Cục thuế thành phố quản lý thu thì điều tiết 100% cho ngân sách thành phố.

c) Trường hợp trong năm, các hộ kinh doanh cá thể do Chi cục thuế quản lý thu mà chuyến lên doanh nghiệp tư nhân do Cục Thuế quản lý thu làm ảnh hưởng cân đối ngân sách quận, huyện, Sở Tài chính-Vật giá phối hợp Cục Thuế kiểm tra, tính toán trình UBND thành phố quyết định bổ sung phần hụt thu đó cho ngân sách quận, huyện.

1.2. Ngoài khoản cân đối như năm 2000, bổ sung thêm nguồn kinh phí kiến thiết thị chính cho một số quận, huyện để thực hiện nhiệm vụ phát triển cơ sở hạ tầng đô thị theo phân cấp và bổ sung thêm kinh phí sự nghiệp kinh tế cho huyện Hòa Vang để phát triển kinh tế - xã hội các xã miền núi.

1.3. Tiếp tục duy trì thực hiện tỷ lệ phân chia giữa vốn Nhà nước hỗ trợ và vốn huy động nhân dân đóng góp đối với các quận, huyện để thực hiện phương châm 'Nhà nước và nhân dân cùng làm" đã quy định như năm 2000. Ngoài mức vốn Nhà nước hỗ trợ được bố trí trong dự toán đầu năm :

a) Nếu quận, huyện có số vốn huy động thực tế tăng hơn số dự toán đầu năm, phần huy động tăng thêm sẽ làm căn cứ cùng tỷ lệ phân chia để thành phố xác định mức vốn Nhà nước hổ trợ bổ sung thông qua trợ cấp có mục tiêu.

b) Ngược lại, phần vốn huy dộng đóng góp của nhân dân không đạt dự toán đầu năm, thì phần huy động hụt được tính ra tỷ lệ đề ngân sách thành phố xác định trừ phần vốn Nhà nước hỗ trợ đã cân đối đầu năm thông qua trừ trợ cấp cân đối ngân sách quận, huyện.

1.4. Ngoài các nội dung trên, thành phố cân đối thêm trong dự toán ngân sách các quận, huyện để thực hiện các nhiệm vụ như : Mua thẻ bảo hiểm y tê cấp cho người nghèo ; chi phục vụ Đại hội Thể dục - Thể thao cấp quận, huyện, phường, xã; chi phục vụ công tác bảo đảm vệ sinh môi trường trên từng địa bàn quận, huyện.

2. Về thu ngân sách :

2.1. Trên cơ sở dự toán thu năm 2001 do UBND thành phố giao, các ngành, các địa phương tiến hành phân bổ dự toán tăng thu tối thiểu là 5%.

2.2. Cơ quan thuế, tài chính, hải quan và các sở, ngành chủ quản các doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị sự nghiệp có thu tổ chức triển khai kế hoạch thu ngay sau khi được UBND thành phố giao. Sở, ngành chủ quản doanh nghiệp phối hợp với Cục thuế, Sở Tài chính- Vật giá giao dự toán thu chi tiết theo từng sắc thuế cho các doanh nghiệp Nhà nước thuộc thành phố quản lý.

Thường xuyên kiếm tra tình hình chấp hành chế độ kế toán, thống kê, sử dụng hóa đơn chứng từ, kê khai nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu ngân sách của các tố chức, cá nhân theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

2.3. Kho bạc Nhà nước thành phố sắp xếp, bố trí thêm các điểm thu hợp lý trên địa bàn thành phố nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng nộp thuế, nộp phạt vào ngân sách Nhà nước. Thực hiện huy động các nguồn thu vào ngân sách qua hệ thống Kho bạc Nhà nước theo đúng quy định, thường xuyên kiểm tra, đối chiếu sổ thu với cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và điều tiết sổ thu ngân sách cho mỗi cấp một cách chính xác.

2.4. Cục thuế chủ trì và phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá thường xuyên rà soát các loại phí, lệ phí trên địa bàn thành phố để đề xuất UBND thành phố hoặc cấp có thẩm quyền bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Tăng cường hơn nữa công tác quản lý, sử dụng nguồn thu từ phí, lệ phí theo quy định.

2.5. Sở Tài chính - Vật giá phối hợp với cơ quan quản lý nhà đất tham mưu UBND thành phố các biện pháp đẩy mạnh thu tiền sử dụng đất, tiền thuế đất, tiền thuế nhà và bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước, nhà công sản. Quản lý và đôn đôc các khoản thu sự nghiệp, thu biện pháp tài chính... Tăng cường kiểm tra công tác quản lý, sử dụng các quỹ, các khoản thu huy động từ nhân dân đóng góp, châm dứt tình trạng lạm thu ở các cấp, các ngành, các đơn vị.

2.6. Thanh tra thành phố, thanh tra chuyên ngành của các cơ quan Tài chính trên địa bàn thành phố xây dựng kế hoạch thanh tra, kiềm tra hằng năm đối với các ngành, các cấp thuộc thành phố quản lý trong lĩnh vực tài chính, ngân sách. Phát hiện kịp thời nhừng biểu hiện lệch lạc trong việc quản lý tài chính để có biện pháp ngăn chặn, uốn nắn hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền xử lý. Phối hợp với cơ quan quản lý thị trường, bộ đội biên phòng, hải quan, công an thành phố... tăng cường kiểm tra tình trạng trôn lậu thuế, buôn lậu và gian lận thương mại; xử phạt nghiêm minh những trường hợp vi phạm.

2.7 Sở Ngoại vụ có trách nhiệm phối hợp với các tổ chức kinh tế, tô chức xã hội, cơ quan hành chính sự nghiệp thành phố xây dựng các dự án cơ hội để kêu gọi nguồn vốn viện trợ của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Các đơn vị tiếp nhận viện trợ phải quản lý chặt chẽ và sử dụng đúng mục đích nguồn viện trợ theo đúng quy định của Nhà nước.

2.8. Nhằm khuyến khích các ngành, các địa phương tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý thu để có nguồn tăng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện nhiệm vụ quan trọng và đột xuất. Năm 2001, UBND thành phố thực hiện cơ chế thưởng vượt dự toán thu ngân sách như năm 2000. Riêng các doanh nghiệp Nhà nước do thành phố quản lý có số thuế thu nhập doanh nghiệp thực nộp vào ngân sách năm sau cao hơn năm trước (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp tồn đọng) thì được cấp lại 50% số thực nộp cao hơn.

- Về tiền thưởng 5% vượt dự toán thu được xem như 100% và phân phối như sau:

+ Cục Thuế được hưởng 60%.

+ Các ngành khác (ngoài ngành Thuế) được hưởng 40%. Tùy theo mức độ hỗ trợ, phối hợp với ngành Thuế; Cục Thuế đề xuất UBND thành phố duyệt mức thưởng, hỗ trợ cho từng ngành, từng cơ quan cụ thể.

+ Mức trích thưởng vượt dự toán thu nói trên tính bình quân không quá 3 triệu đồng/1 cán bộ/1 năm. Trong đó, riêng tiền thưởng cho cá nhân không quá 200.000 đồng/công chức/1 tháng.

- Về tiền thưởng trong quản lý XDCB và quản lý ngân sách nói chung, nếu các cơ quan chuyên môn (kề cả Văn phòng UBND) kiểm tra phát hiện có số gian lận trong quyết toán dã được thẩm định thì được trích thưởng 10% trên số gian lận được phát hiện. Việc trích thưởng cụ thế cho từng trường hợp do UBND thành phố xem xét, quyết định.

Nguồn kinh phí đề trích thưởng :

+ Đối với XDCB, nếu chủ đầu tư quyết toán mà cơ quan tài chính thẩm định phát hiện sai thì trích chi phí hoạt động của chủ đầu tư để thưởng cho cơ quan tài chính, nếu cơ quan tài chính thẩm định mà Văn phòng UBND thành phố kiểm soát phát hiện trước khi trình phê duyệt thì trích chi phí thấm định của cơ quan tài chính đề thưởng cho Văn phòng UBND.

+ Đối với quản lý ngân sách, tài chính nói chung, nếu cơ quan hành chính sự nghiệp hoặc doanh nghiệp hoặc cơ quan tài chính báo cáo quyết toán phát hiện sai thì trích tiền thưởng hằng năm hoặc quỹ khen thưởng của doanh nghiệp.

3. Về chi ngân sách và tiết kiệm chi :

3.1. Căn cứ vào dự toán chi được UBND thành phố giao, các sở, ban, ngành tiến hành phân bô và giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc. Các đơn vị dự toán sau khi trừ lương và các khoản có tính chất lương, chỉ bố trí sử dụng 90% cho công việc và 10% bố trí dự phòng khi có phát sinh nhiệm vụ chi đột xuất trong năm, nhưng phải có ý kiến bằng văn bản của Sở Tài chính - Vật giá mới được sử dụng. Đối với đơn vị dự toán thuộc quận, huyện quản lý, giao cho Chủ tịch UBND quận, huyện quyết định cụ thể.

3.2. Trong phạm vi dự toán được giao, các đơn vị thụ hưởng ngân sách tiến hành phân bổ chi tiết theo ít nhất 9 mục chi chủ yếu của mục lục ngân sách Nhà nước đã được Bộ Tài chính quy định (bao gồm cả dự toán năm và dự toán từng quý) gửi cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để làm cơ sở cấp phát kinh phí và kiểm soát chi cho cả năm (trừ trường hợp có điều chỉnh dự toán).

3.3. Về công tác quản lý, cấp phát, thanh toán vốn đầu tư XDCB (kể cả vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư - xây dựng có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên để sửa chữa, cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở vật chất hiện có nhằm phục hồi hoặc tăng giá trị tài sản cố định).

a) Về thủ tục đầu tư: Căn cứ vào kế hoạch danh mục công trình XDCB được UBND thành phố phê duyệt, các chủ đầu tư phải kiểm tra và hoàn chỉnh đầy đủ các thủ tục đầu tư theo quy định ngay trong quý 1-2001, như: Dự án đầu tư được duyệt, thiết kế, dự toán được duyệt, quyết định phê duyệt kết quả trúng thầu (đối với các công trình đấu thầu).

b) Về cấp phát vốn đầu tư :

- Trên cơ sở kế hoạch vốn được giao và nhu cầu vốn đầu tư, hằng quý các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án lập kế hoạch sử dụng vốn đầu tư XDCB gửi cho UBND thành phố, Kho bạc Nhà nước thành phố và Sở Tài chính - Vật giá thành phố.

- Sở Tài chính - Vật giá thành phố căn cứ vào kế hoạch sử dụng vồn thực hiện chuyển vốn kịp thời sang Kho bạc Nhà nước thành phố.

c) Về thanh toán và quyết toán vốn đầu tư :

- Căn cứ Quyết định của Chủ tịch UBND thành phố về cấp vốn đầu tư cho công trình, Kho bạc Nhà nước thành phố kiểm soát hồ sơ thanh toán theo quy định của Bộ Tài chính và thực hiện thanh toán vồn cho nhà thầu, chủ đầu tư, ban quản lý dự án. Định kỳ hằng tháng và chậm nhất vào ngày 5 tháng sau, Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm báo cáo tình hình thanh toán vỗn các công trình, số dư vốn đầu tư chưa thanh toán đang tồn ngân tại Kho bạc Nhà nước cho UBND thành phố.

- Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm thâm định quyết toán vốn đầu tư XDCB do các chủ đầu tư lập, trình UBND thành phố xem xét phê duyệt hoặc thực hiện phê duyệt theo phân cấp tại Quyết định 77/2000/QĐ-UB ngày 07-7-2000. Ngoài ra, Sở Tài chính- Vật giá có trách nhiệm thẩm tra các nội dung chi thuộc dự toán kinh phí hoạt động các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án, ban giải tỏa đền bù, dự toán kinh phí chuẩn bị đầu tư, dự toán kinh phí quy hoạch và phê duyệt trong phạm vi kế hoạch vốn đả bố trí.

3.4. Về điều chỉnh kế hoạch:

Trong quá trình thực hiện, nếu phát sinh các dự án, công trình ngoài kế hoạch hoặc cần thiết phải điều chỉnh kế hoạch vốn đầu tư XDCB, Sở Kế hoạch - Đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá, Kho bạc Nhà nước thành phố, Văn phòng UBND thành phố và chủ đầu tư đề xuất UBND thành phố để bố sung vốn hoặc điều chỉnh giảm vốn các dự án, công trình do không thực hiện được, bắt đầu từ tháng 8 và chậm nhât đến cuôi tháng 9-2001, nhằm tập trung hoàn thành đưa vào sử dụng sớm các dự án, công trình, châm dứt tình trạng kéo dài thời hạn thanh toán vốn.

3.5. Chậm nhất vào ngày 25 của tháng đầu quý III-2001, các đơn vị thụ hưởng ngân sách phải gửi báo cáo quyết toán 6 tháng đầu năm cho cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch đề theo dõi kiểm soát và cấp phát kinh phí 6 tháng cuối năm. Trường hợp đơn vị không thực hiện đúng quy định, cơ quan tài chính được quyền ngừng cấp phát kinh phí của 6 tháng còn lại trong năm (trừ các khoản lương và có tính chất như lương) cho đến khi đơn vị có báo cáo. Thủ trưởng đơn vị sử dụng kinh phí được cấp phải quản lý kinh phí chặt chẽ, chi tiêu đúng mục đích, có hiệu quả và tiết kiệm.

3.6. Mọi khoản chi phí phát sinh đột xuất, các đơn vị phải xử lý từ nguồn dự phòng đã bố trí trong dự toán của đơn vị.

a) Trường hợp đơn vị sử dụng ngân sách có nhu cầu cần bổ sung kinh phí ngoài dự toán để thực hiện nhiệm vụ mới mà nguồn dự phòng của đơn vị đã hết thì các đơn vị phải làm việc trước với cơ quan tài chính, nhưng phải chứng minh nhiệm vụ mới đã có chủ trương (hoặc ý kiến cụ thể) của cấp (hoặc người có thẩm quyền) phê duyệt đế cơ quan tài chính có cơ sở đề xuât UBND cùng cấp xem xét giải quyết kinh phí.

b) Từ năm 2001, khi đơn vị có văn bản gửi đến cơ quan tài chính (dù dưới hình thức gửi ghi tên cơ quan tài chính cùng với tên UBND nơi kính gửi hoặc ghi bên dưới nơi nhận) mà đủ điều kiện nêu ở điểm a nói trên, cơ quan tài chính nghiên cứu đề xuất bằng văn bản cho UBND cùng cấp chậm nhất sau 3 ngày, kể từ ngày nhận văn bản của đơn vị.

c) Các đơn vị gửi văn bản đề nghị hỗ trợ hay bổ sung kinh phí mà chưa có ý kiến cơ quan tài chính như nêu ở điểm b nói trên (kể cả chưa có ý kiến các cơ quan, địa phương, nếu nội dung công việc có liên quan) thì Văn phòng UBND được phép lưu theo dõi chờ có đủ ý kiến mới trình UBND xem xét giải quyết, trừ nhừng trường hợp có tính chất đơn giản, khẩn cấp như thiên tai, địch họa hoặc có ý nghĩa chính trị - xả hội như kinh phí hỗ trợ đón nhận danh hiệu Anh hùng, kỷ niệm ngày lễ lớn, phát sinh đột xuất,... do chủ tịch, các phó chủ tịch UBND thành phố quyết định trực tiếp.

3.7. Cơ quan tài chính phải bám sát vào dự toán để cấp phát kinh phí và Kho bạc Nhà nước căn cứ nhiệm vụ chi, dự toán kinh phí đế kiểm soát, thanh toán cho đơn vị. Đồng thời được quyền từ chối cấp phát thanh toán hoặc xuất toán những khoản chi tiêu của đơn vị sử dụng kinh phí sai mục đích, sai chế độ Nhà nước quy định.

Đối với khoản bổ sung theo dự toán từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới, cơ quan tài chính cấp trên phải có kế hoạch cấp bổ sung cho ngân sách cấp dưới và công khai ngay sau khi giao dự toán ngân sách là 5 ngày để cơ quan tài chính cấp dưới biết chủ động cân đối thu - chi hợp lý. Riêng việc cấp bổ sung kinh phí từ ngân sách thành phố cho ngân sách quận, huyện được thực hiện mỗi quý 2 lần (lần 1 cấp vào tháng đầu quý, lần 2 cấp vào tháng giữa quý).

3.8. Tiếp tục thực hiện chủ trương phê duyệt nội dung chi tiết sử dụng kinh phí sự nghiệp, mua sắm, sửa chừa tài sản, kinh phí chương trình mục tiêu (trừ phần XDCB và có tính chất đầu tư và xây dựng), kinh phí đào tạo, kề cả kinh phí ủy quyền của ngân sách Trung ương. Sở Tài chính - Vật giá phối hợp với các cơ quan có sử dụng nguồn kinh phí này thẩm định, trình UBND thành phố phê duyệt chậm nhất đến cuối quý 1-2001 hoàn thành.

3.9. Đối với vốn đối ứng, chi phí lập dự án viện trợ, tài trợ của tổ chức, cá nhân nước ngoài tiếp tục thực hiện như năm 2000 cho đến khi UBND thành phố ban hành cơ chế quản lý, điều hành riêng.

3.10. Đối với các khoản chi từ nguồn trích đế lại của phí, lệ phí theo tỷ lệ phần trăm, đơn vị sử dụng phải lập dự toán chi tiết gửi cơ quan Tài chính thẩm định và phê duyệt trước khi sử dụng. Đồng thời lập báo cáo quyết toán hằng quý, năm về số thu, số. nộp ngân sách, tình hình quản lý và sử dụng gửi cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để kiểm tra thực hiện ghi thu - ghi chi vào ngân sách. Các cơ quan có chức năng thu phí, lệ phí ở cấp quận, huyện, thành phố phải thực hiện nghiêm túc việc trích để lại và nộp ngân sách theo tỷ lệ (%) đã được quy định, kể cả phần thu vượt (nếu có). Đối với phí, lệ phí phường, xã phải nộp đầy đủ sổ thu được vào ngân sách, sau đó được cấp lại từ ngân sách theo tỷ lệ quy định.

3.11. Về công khai tài chính và tiết kiệm chi ngân sách :

a) Các sở, ban, ngành, UBND các cấp, các đơn vị thụ hưởng ngân sách và các DNNN địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm túc chủ trương công khai hóa tài chính, ngân sách, các khoản thu đóng góp tự nguyện của nhân dân đề xây dựng cơ sở hạ tầng trên tết cả các khâu phân bổ, sử dụng, quyết toán kinh phí theo đúng quyết định của Chính phủ và các Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính. Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra việc chấp hành và kịp thời báo cáo UBND thành phố những ngành, địa phương và đơn vị không chấp hành nghiêm túc chủ trương này.

b) Các đơn vị thụ hưởng ngân sách, nếu trong năm có tiết kiệm được hạn mức kinh phí và cuối năm được cơ quan tài chính xác nhận mà thực sự có nhu cầu bức thiết cần sử dụng nguồn tiêt kiệm này để mua sắm thêm trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoặc sửa chữa nhỏ cơ quan, bể sung chi nghiệp vụ thì có văn bản đề nghị để UBND thành phố giải quyết.