Điều 9. Bồi thường, hỗ trợ do phải di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 2 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP
1. Mức tiền bồi thường, hỗ trợ di dời mồ mả khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo đơn giá bồi thường, hỗ trợ do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm thực hiện bồi thường.
2. Đối với mộ đặc biệt kiên cố hoặc có kiến trúc phức tạp, đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư lập dự toán mức bồi thường hoặc thuê đơn vị tư vấn có tư cách pháp nhân lập dự toán, trình thẩm định, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
3. Đối với mồ mả không có thân nhân đến khai nhận thì đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có trách nhiệm thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh tối thiểu 03 lần, mỗi lần cách nhau 05 ngày và niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, địa điểm sinh hoạt chung của khu dân cư nơi có đất thu hồi. Hết thời hạn được quy định trong thông báo mà không có người đến nhận thì giao cho đơn vị, tổ chức thực hiện nhiệm vụ bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phối hợp với Chủ đầu tư, Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm di dời theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP, kinh phí di dời được chi trả cho đơn vị di dời theo chi phí thực tế. Mồ mả sau khi được bồi thường phải di dời và cải táng tại nghĩa trang, nghĩa địa theo quy hoạch của địa phương.