Điều 4. Bồi thường bằng đất cùng loại quy định của Luật Đất đai, Nghị định số 88/2024/NĐ-CP
1. Việc bồi thường bằng đất được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi.
2. Khu đất hoặc thửa đất bị thu hồi và khu đất hoặc thửa đất dự kiến để bồi thường phải được xác định giá đất tại cùng một thời điểm để làm cơ sở so sánh mức độ tương quan giá trị giữa hai khu đất hoặc thửa đất, đảm bảo việc giao đất mới có kết cấu hạ tầng bằng hoặc tốt hơn kết cấu hạ tầng tại vị trí đất thu hồi.
3. Giá đất của khu đất hoặc thửa đất bị thu hồi và khu đất hoặc thửa đất dự kiến để bồi thường cho hộ gia đình, cá nhân, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là giá đất được xác định theo bảng giá đất tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trường hợp bồi thường bằng cho thuê đất thu tiền thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê thì giá đất của khu đất hoặc thửa đất bị thu hồi và khu đất hoặc thửa đất dự kiến để bồi thường là giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
4. Giá đất tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất khi bồi thường bằng đất cho tổ chức kinh tế là giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
5. Ủy ban nhân dân cấp huyện căn cứ vào tình hình thực tế của dự án và quỹ đất của địa phương để thực hiện việc bồi thường bằng đất đảm bảo tính công bằng, quyền lợi của người bị thu hồi đất; đảm bảo đủ để đáp ứng cho tất cả các đối tượng có đất bị thu hồi trong cùng 01 dự án có nhu cầu bồi thường bằng đất.