Điều 14. Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở
Hỗ trợ đối với đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất vườn, ao không được công nhận là đất ở theo quy định tại Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:
1. Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm còn được hỗ trợ bằng 70% giá đất ở của thửa đất đó; diện tích được hỗ trợ bằng năm (05) lần hạn mức giao đất ở tối đa tương ứng với từng khu vực (xã, phường, thị trấn) do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành, trường hợp diện tích đất bị thu hồi nhỏ hơn năm (05) lần hạn mức giao đất ở tối đa thì diện tích được hỗ trợ bằng diện tích thực tế bị thu hồi.
2. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường, trong khu dân cư thuộc thị trấn, khu dân cư nông thôn; thửa đất nông nghiệp tiếp giáp với ranh giới phường, ranh giới khu dân cư thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp còn được hỗ trợ bằng 50% giá đất ở trung bình của khu vực có đất thu hồi theo quy định của Bảng giá các loại đất do UBND tỉnh ban hành; diện tích được hỗ trợ là diện tích đất thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá ba phẩy năm (3,5) lần hạn mức giao đất ở tối đa tương ứng với từng khu vực (xã, phường, thị trấn) do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành; trường hợp diện tích đất bị thu hồi nhỏ hơn ba phẩy năm (3,5) lần hạn mức giao đất ở tối đa thì diện tích được hỗ trợ bằng diện tích thực tế bị thu hồi.
3. Cách xác định giá đất ở trung bình khu vực thu hồi đất để tính hỗ trợ đối với đất nông nghiệp theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 21 của Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định cụ thể như sau:
a) Đối với dự án mà khu vực có đất thu hồi nằm trong địa giới hành chính của một đơn vị hành chính xã, hoặc phường, hoặc thị trấn thì giá đất ở trung bình được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng tất cả các mức giá đất ở của khu vực thu hồi đất theo bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
b) Đối với dự án mà khu vực có đất thu hồi thuộc phạm vi từ 02 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn trở lên thì giá đất ở trung bình được xác định riêng cho từng khu vực thu hồi đất thuộc phạm vi của từng xã, phường, thị trấn theo nguyên tắc trung bình cộng tất cả các mức giá đất ở của từng khu vực thu hồi đất theo bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
c) Đối với dự án mà khu vực có đất thu hồi không có đất ở thì giá đất ở trung bình được xác định theo nguyên tắc trung bình cộng các mức giá đất ở của các đoạn đường liền kề hoặc đoạn đường lân cận gần nhất (trường hợp không có đoạn đường liền kề) trong bảng giá đất do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
d) Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm xác định giá đất ở trung bình của khu vực thu hồi đất đối với dự án do Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm xác định giá đất ở trung bình của khu vực thu hồi đất đối với dự án do Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo nguyên tắc trên, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định để làm cơ sở tính toán phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho từng dự án cụ thể.
Trong quá trình triển khai thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, nếu dự án nào có phát sinh vướng mắc về xác định mức giá đất ở trung bình khu vực thu hồi đất thì UBND các huyện, thành phố Cà Mau báo cáo, đề xuất cụ thể giá đất ở trung bình của khu vực thu hồi đất cho phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương gửi Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các sở, ngành có liên quan tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định