Điều 33. Trường hợp cho phép được chậm nộp tiền sử dụng đất tái định cư.
1. Đối với các hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bố trí đất tái định cư, có hoàn cảnh khó khăn, nếu không xây dựng nhà ở tái định cư thì không còn chỗ nào khác để ở, nhưng tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ về đất nếu sau khi trừ đi tiền sử dụng đất tái định cư phải nộp theo quy định tại Khoản 7 Điều 31 của Quy định này mà số tiền còn lại không đủ xây dựng nhà để ở (được UBND xã, phường, trấn xác nhận) thì số tiền còn thiếu để nộp tiền sử dụng đất tái định cư được nộp chậm trong thời gian tối đa không quá 05 năm do UBND tỉnh xem xét, quyết định cụ thể. Quá thời hạn UBND tỉnh cho phép chậm nộp thì tiền sử dụng đất còn nợ được tính theo giá đất do UBND tỉnh công bố hàng năm tại thời điểm trả nợ tiền sử dụng đất.
2. Đối với các trường hợp cho phép được chậm nộp tiền sử dụng đất tái định cư theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì trên giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất được ghi rõ (đóng dấu) “Nợ tiền sử dụng đất”. Trong thời gian còn nợ tiền sử dụng đất, người sử dụng đất không được sử dụng quyền sử dụng đất để thế chấp, cầm cố hoặc dưới mọi hình thức thay đổi về quyền sử dụng đất.