Điều 11. Mức tiền phạt
Khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính không có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó. Mức trung bình của khung tiền phạt được xác định bằng cách chia đôi tổng số của mức tối thiểu cộng với mức tối đa. Trường hợp Nghị định quy định xử phạt hành vi vi phạm cụ thể phải nhân thêm số lần tiền xử phạt thì phải nhân số lần bị phạt tiền với mức tiền phạt tối thiểu, mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt để thành khung tiền phạt mới cao hơn. Trường hợp Nghị định xử phạt vi phạm hành chính quy định mức tiền phạt cụ thể đối với hành vi vi phạm thì áp dụng mức tiền phạt cụ thể để xử phạt.
Nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống, nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt. Khi áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, cần phải xem xét, tính chất mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm để xác định mức tiền phạt phù hợp, không nhất thiết có tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ thì áp dụng mức tiền phạt tối đa hoặc tối thiểu của khung tiền phạt. Trường hợp Nghị định xử phạt vi phạm hành chính hoặc Thông tư hướng dẫn Nghị định xử phạt có quy định về cách tính mức tiền phạt khi có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì áp dụng theo quy định đó.