Điều 10. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính
1. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính hoặc cấp phó của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được ủy quyền ký ban hành. Việc ủy quyền xử phạt vi phạm hành chính phải thực hiện bằng văn bản, trong đó phải xác định rõ phạm vi, nội dung và thời hạn ủy quyền.
2. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với trường hợp cụ thể được xác định tại các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước theo các nguyên tắc sau:
a) Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt hoặc mức tiền phạt cụ thể cho mỗi hành vi vi phạm hành chính quy định trong Nghị định xử phạt vi phạm hành chính. Trường hợp quy định phạt tiền theo số lượng tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo mức phạt cụ thể 1 tang vật, phương tiện nhân với số lượng tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trường hợp Nghị định quy định mức tiền phạt bằng việc nhân nhiều lần khung tiền phạt thì khung tiền phạt mới sẽ có mức tiền phạt tối đa cao hơn, nên thẩm quyền xử phạt hành chính được xác định theo mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt mới.
b) Trường hợp một người vi phạm một hành vi vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt chỉ được ra quyết định xử phạt khi tất cả hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng đối với hành vi đó đều thuộc thẩm quyền của mình. Nếu một người vi phạm nhiều hành vi vi phạm hành chính, mà một trong những hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt của mình thì phải chuyển hồ sơ cho người có thẩm quyền xử phạt tất cả hành vi đó để xử phạt, không được tách hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt của mình để xử phạt.
c) Khi xử phạt vi phạm hành chính, chỉ được áp dụng một trong hai hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền để xử phạt đối với một hành vi vi phạm hành chính. Hình thức xử phạt cảnh cáo được áp dụng đối với người vi phạm từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, đồng thời chỉ được áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm khác nếu điều khoản áp dụng để xử phạt có quy định hình thức xử phạt cảnh cáo. Tuy nhiên, có thể áp dụng một hoặc nhiều hình thức phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả đối với một hành vi vi phạm hành chính nếu điều, khoản để áp dụng xử phạt có quy định.
3. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải được ban hành trong thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều 56 của Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 (đã sửa đổi, bổ sung) và Điều 23, Khoản 2 Điều 32 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP. Trường hợp Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính có quy định riêng về thời hạn ban hành quyết định xử phạt thì áp dụng thời hạn quy định tại Nghị định đó.
4. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố quy định tại Khoản 3, Điều 56 về quyết định xử phạt của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (đã sửa đổi, bổ sung). Trong phần ghi hành vi vi phạm, nếu điều, khoản áp dụng để xử phạt có quy định mức xử phạt khác nhau theo số lượng, giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính thì phải ghi cụ thể số lượng, giá trị đã được định giá theo quy định, đồng thời phải ghi rõ tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ của hành vi vi phạm (nếu có).