Điều 11. Quản lý chất lượng của nhà thầu xây dựng công trình
1. Nhà thầu xây dựng công trình phải tổ chức quản lý chất lượng thi công xây dựng công trình theo các nội dung quy định tại Điều 19 Nghị định 209/2004 /NĐ-CP.
2. Nhà thầu thi công xây dựng phải lập sổ nhật ký thi công xây dựng công trình nhằm trao đổi thông tin nội bộ của nhà thầu thi công xây dựng, trao đổi thông tin giữa chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình, sổ nhật ký thi công xây dựng công trình được đánh số trang, đóng dấu giáp lai của nhà thầu thi công xây dựng; Nhà thầu thi công xây dựng công trình ghi nhật ký thi công xây dựng công trình theo nội dung quy định tại Điểm d khoản 1 Điều 19 Nghị định 209/2004/NĐ-CP với các nội dung sau:
- Danh sách cán bộ kỹ thuật của nhà thầu tham gia xây dựng công trình (Chức danh và nhiệm vụ của từng người).
- Diễn biến tình hình thi công hàng ngày, tình hình thi công từng loại công việc, chi tiết toàn bộ quá trình thực hiện.
- Mô tả vắn tắt phương pháp thi công, tình trạng thực tế của vật liệu, cấu kiện sử dụng.
- Những sai lệch so với bản vẽ thi công, có ghi rõ nguyên nhân kèm theo biện pháp sửa chữa.
- Nội dung bàn giao của ca thi công trước đối với ca thi công sau.
- Nhận xét của bộ phận quản lý chất lượng tại hiện trường về chất lượng thi công xây dựng.
3. Nhà thầu thi công xây dựng phải tiến hành nghiệm thu nội bộ các công việc xây dựng trước khi phát hành phiếu yêu cầu chủ đầu tư nghiệm thu với các thành phần trực tiếp tham gia nghiệm thu như sau:
- Đội trưởng
- Người phụ trách kỹ thuật thi công trực tiếp.
- Tổ trưởng công nhân trực tiếp thi công
- Đại diện nhà thầu thi công công việc, giai đoạn thi công xây dựng tiếp nhận để tiếp tục thi công( nếu có)
- Đại diện tổ quản lý chất lượng giúp Chỉ huy trưởng công trường
- Đại diện Phòng kỹ thuật của nhà thầu thi công xây dựng
4. Phối hợp với chủ đầu tư tổ chức nghiệm thu công việc xây dựng theo giai đoạn thi công xây dựng, các hạng mục công trình xây dựng theo quy định tại các Điều 23, Điều 24, Điều 25 và Điều 26 Nghị định 209/2004/NĐ-CP và khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 1 của Nghị định 49/2008/NĐ-CP.