vanban.org

Điều 18 — Pháp lệnh số Không số Tổ chức Viện kiểm sát quân sự

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Quốc hội Ban hành 21/12/1985 Hiệu lực 03/01/1986 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời pháp lệnh · 3 phiên bản · 40 năm
Pháp lệnh số 05/2002/PL-UBTVQH11 Tổ chức Viện kiểm sát quân sự · 05/2002/PL-UBTVQH11
Pháp lệnh số Không số Tổ chức Viện kiểm sát quân sự 1993
Pháp lệnh số Không số Tổ chức Viện kiểm sát quân sự 1985
09/04/199036-LCT/HĐNN8Chưa hợp nhất 03/01/1986Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh Không số › Chương II › Mục 4 › Điều 18
Đọc toàn văn

Điều 18

Khi thực hiện công tác kiểm sát chấp hành án, các Viện kiểm sát quân sự có quyền:

1- Yêu cầu cơ quan chấp hành án và đơn vị hữu quan:

a) Tự kiểm tra việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án quân sự đã có hiệu lực pháp luật và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát quân sự biết;

b) Cung cấp những tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến việc chấp hành án;

c) Chấp hành các bản án và quyết định của Toà án quân sự đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được chấp hành.

2- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị, tổ chức của quân đội, các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và những người hữu quan trong việc chấp hành các bản án và quyết định của Toà án quân sự đã có hiệu lực pháp luật; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, đơn vị đó trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng và của các công dân khác đối với việc chấp hành án.

3- Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, đơn vị hữu quan, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành những văn bản, biện pháp hoặc việc vi phạm pháp luật trong việc chấp hành án; yêu cầu xử lý hành chính người chịu trách nhiệm về việc vi phạm pháp luật đó. Trong trường hợp cần thiết thì truy cứu trách nhiệm hình sự.