vanban.org

Điều 12 — Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 Bảo vệ bí mật Nhà nước

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2020
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 28/12/2000 Hiệu lực 01/04/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời pháp lệnh · 4 phiên bản · 74 năm
Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 Bảo vệ bí mật Nhà nước · 30/2000/PL-UBTVQH10
01/07/202029/2018/QH14Sửa đổi Đang xem 01/04/2001Bản gốcThay thế
Pháp lệnh số Không số Bảo vệ Bí mật Nhà nước 1991
Sắc lệnh số 69/SL Về việc đặt chế độ giữ gìn bí mật quốc gia 1951 · 69/SL
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 30/2000/PL-UBTVQH10 › Chương III › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, người đứng đầu hoặc người được ủy quyền của cơ quan, tổ chức và Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm sau đây:

1. Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của Pháp lệnh này và các văn bản pháp luật khác có liên quan;

2. Ban hành và tổ chức thực hiện nội quy bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của Chính phủ;

3. Lập danh mục, thay đổi độ mật, giải mật bí mật nhà nước gửi cấp có thẩm quyền quyết định;

4. Bố trí cán bộ làm công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của Chính phủ;

5. Tuyên truyền, giáo dục những người thuộc quyền quản lý của mình nâng cao trách nhiệm, cảnh giác và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;

6. Thực hiện chế độ báo cáo về công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của Chính phủ.