vanban.org

Điều 4. Nguyên tắc thực hiện và quản lý rủi ro — Nghị quyết 66/2026/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/10/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
HĐND Thành phố Hồ Chí Minh Ban hành 22/09/2026 Hiệu lực 01/10/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 66/2026/NQ-HĐND › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Nguyên tắc thực hiện và quản lý rủi ro

1. Việc thành lập, tham gia thành lập doanh nghiệp, tham gia quản lý, điều hành, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp để thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ được thực hiện trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở công lập; đúng mục tiêu thương mại hóa, đúng thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật và Nghị quyết này.

2. Việc quyết định thương mại hóa phải căn cứ vào giá trị, khả năng khai thác, ứng dụng và thương mại hóa của kết quả nghiên cứu; phương án sử dụng tài sản, quyền sở hữu trí tuệ; phương án đầu tư, kinh doanh; khả năng huy động nguồn lực; hiệu quả dự kiến và các rủi ro có thể phát sinh.

3. Tài sản, quyền tài sản và kết quả nghiên cứu sử dụng để góp vốn phải có căn cứ xác định rõ nguồn gốc, quyền sở hữu, quyền quản lý, quyền sử dụng, tình trạng pháp lý và giá trị theo quy định của pháp luật; việc sử dụng tài sản để góp vốn phải bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích và không thuộc trường hợp pháp luật không cho phép sử dụng để góp vốn.

4. Việc xác định giá trị tài sản, quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn được thực hiện theo quy định của pháp luật và phương pháp phù hợp với đặc điểm của tài sản, kết quả nghiên cứu và phương án thương mại hóa. Trường hợp cần thiết, cơ sở công lập được thuê tổ chức định giá, tổ chức tư vấn, chuyên gia có năng lực để xác định hoặc tư vấn về giá trị tài sản, quyền sở hữu trí tuệ và phương án góp vốn.

5. Rủi ro phát sinh trong hoạt động thương mại hóa được phân loại, đánh giá và xử lý theo nguyên nhân, mức độ, khả năng kiểm soát và trách nhiệm của từng tổ chức, cá nhân. Rủi ro kinh doanh phát sinh trong quá trình thương mại hóa không phải là căn cứ để xác định vi phạm hoặc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân nếu việc quyết định, xác định giá trị tài sản, tổ chức thực hiện và quản lý tài sản được thực hiện đúng quy định của pháp luật, đúng thẩm quyền, đúng Đề án thương mại hóa đã được phê duyệt và không có hành vi gian dối, cố ý làm trái hoặc vụ lợi.

6. Kết quả thương mại hóa không đạt, đạt thấp hơn hoặc khác với mục tiêu, chỉ tiêu dự kiến trong Đề án thương mại hóa không phải là căn cứ duy nhất để xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân. Việc xem xét trách nhiệm phải căn cứ vào quá trình ra quyết định và tổ chức thực hiện, mức độ tuân thủ pháp luật, việc quản lý và sử dụng tài sản, nguyên nhân của rủi ro và các yếu tố khách quan, chủ quan có liên quan.

7. Không sử dụng ngân sách nhà nước để bù đắp khoản lỗ, tổn thất phát sinh từ hoạt động thương mại hóa, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc xử lý tổn thất thực hiện theo quy định của pháp luật, thỏa thuận giữa các bên và phương án phân chia rủi ro được phê duyệt.

8. Cơ sở công lập có trách nhiệm chủ động theo dõi, đánh giá để kịp thời điều chỉnh phương án thương mại hóa, thay đổi hình thức khai thác, chuyển giao, giảm hoặc chấm dứt việc tham gia doanh nghiệp, chuyển nhượng hoặc thoái vốn theo quy định của pháp luật khi mục tiêu thương mại hóa không còn phù hợp hoặc việc tiếp tục tham gia không còn hiệu quả.

9. Việc thực hiện cơ chế quy định tại Nghị quyết này không làm thay đổi nghĩa vụ bảo vệ tài sản công, quyền sở hữu trí tuệ, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ sở công lập và các bên có liên quan; không được sử dụng cơ chế thương mại hóa để hợp thức hóa hành vi vi phạm pháp luật.