vanban.org

Điều 11. Cơ chế, chính sách phát triển tài sản số — Nghị quyết 59/2026/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
HĐND Thành phố Hà Nội Ban hành 15/06/2026 Hiệu lực 01/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 59/2026/NQ-HĐND › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Cơ chế, chính sách phát triển tài sản số

1. Tổ chức nghiên cứu, phát triển công nghệ nền tảng phục vụ quản lý và phát triển tài sản số trên địa bàn Thành phố được Ủy ban nhân dân Thành phố hỗ trợ khai thác, sử dụng nguồn lực số của Thành phố. Công nghệ nền tảng phục vụ quản lý và phát triển tài sản số bao gồm: Công nghệ chuỗi khối, hợp đồng thông minh, token hóa tài sản thực, ví số bảo mật, định danh và xác thực điện tử, công nghệ phòng, chống rửa tiền, truy xuất nguồn gốc, quản lý vòng đời tài sản số và công nghệ nền tảng khác phục vụ phát triển tài sản số theo quy định của pháp luật.

2. Ưu đãi, hỗ trợ đối với tổ chức hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực tài sản mã hóa:

a) Các tổ chức cung cấp dịch vụ tài sản mã hóa, tổ chức phát hành tài sản mã hóa, tổ chức cung cấp nền tảng công nghệ, dịch vụ kỹ thuật và dịch vụ phụ trợ phục vụ hoạt động hợp pháp trong lĩnh vực tài sản mã hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, chấp thuận, xác nhận đủ điều kiện hoặc cho phép thực hiện theo quy định của pháp luật thì được xem xét áp dụng chính sách ưu đãi, hỗ trợ quy định tại khoản này khi đặt trụ sở chính, trung tâm điều hành, trung tâm công nghệ, trung tâm dữ liệu hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển trên địa bàn Thành phố và tuân thủ nghiêm ngặt quy định pháp luật về phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo vệ nhà đầu tư;

b) Tổ chức quy định tại điểm a khoản này được Ủy ban nhân dân Thành phố hỗ trợ sử dụng nguồn lực số của Thành phố quy định tại Điều 9 Nghị quyết này, được hỗ trợ tối đa 50% tiền lãi vay thực tế phát sinh từ các khoản vay ngân hàng, Quỹ Đầu tư phát triển Thành phố hoặc quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách để thực hiện hoạt động được phép, với thời hạn hỗ trợ tối đa 05 năm kể từ ngày giải ngân. Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định căn cứ hồ sơ đề nghị, hiệu quả kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách;

c) Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định việc hỗ trợ dựa trên khả năng cân đối ngân sách và nhu cầu thu hút đầu tư.

3. Tổ chức được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ quy định tại Điều này có trách nhiệm tuân thủ quy định của pháp luật về an toàn thông tin mạng, an ninh mạng, an ninh dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, phòng chống rửa tiền và các quy định pháp luật có liên quan; thực hiện chế độ báo cáo, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ công tác quản lý, giám sát theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; sử dụng kinh phí hỗ trợ đúng mục đích, đúng đối tượng, duy trì hoạt động trên địa bàn Thành phố tối thiểu 05 năm kể từ ngày nhận hỗ trợ; báo cáo định kỳ hằng năm cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tình hình hoạt động, rủi ro và kết quả tuân thủ pháp luật.