Điều 2. Nguyên tắc hưởng chế độ hỗ trợ
1. Trong cùng một thời điểm huấn luyện viên, vận động viên chỉ được hưởng một chế độ dinh dưỡng trong thời gian tập luyện thường xuyên, thời gian tập trung tập huấn hoặc thời gian tập trung thi đấu.
2. Trường hợp huấn luyện viên, vận động viên được triệu tập vào đội tuyển quốc gia, khi đã hưởng chính sách, chế độ tiền lương và chế độ dinh dưỡng theo Nghị định số 152/2018/NĐ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2018 của Chính phủ Quy định một số chế độ đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao trong thời gian tập trung tập huấn, thi đấu và Thông tư số 86/2020/TT-BTC ngày 26 tháng 10 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính Quy định chi tiết chế độ dinh dưỡng đặc thù đối với huấn luyện viên thể thao thành tích cao, vận động viên thể thao thành tích cao thì không hưởng chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết này.
3. Thời gian được hưởng các chế độ
a) Thời gian tập luyện thường xuyên là số ngày huấn luyện viên, vận động viên có mặt thực tế tập luyện hàng ngày theo quyết định triệu tập của cơ quan quản lý huấn luyện viên, vận động viên.
b) Thời gian tập trung tập huấn là số ngày huấn luyện viên, vận động viên được cơ quan quản lý huấn luyện viên, vận động viên triệu tập trước giải thi đấu theo điều lệ cụ thể của từng giải thể thao khu vực, quốc gia, quốc tế do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Thể dục thể thao Việt Nam; Liên đoàn, Hiệp hội thể thao và các tổ chức quốc tế tổ chức.
c) Thời gian tập trung thi đấu là số ngày huấn luyện viên, vận động viên được cơ quan quản lý huấn luyện viên, vận động viên quyết định triệu tập để thi đấu tại các giải thể thao khu vực, quốc gia, quốc tế do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Thể dục thể thao Việt Nam; Liên đoàn, Hiệp hội thể thao và các tổ chức quốc tế tổ chức.
d) Thời gian được hưởng các chế độ không bao gồm các ngày nghỉ lễ, tết theo quy định.