Điều 2. Nguyên tắc hỗ trợ
1. Việc xác định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; cá nhân là người dân tộc thiểu số thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo theo quy định của cấp có thẩm quyền.
2. Việc bố trí quỹ đất sinh hoạt cộng đồng; quỹ đất để giao đất, cho thuê đất được căn cứ vào điều kiện cụ thể quỹ đất hiện có của địa phương và quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
3. Đảm bảo công khai, minh bạch, đúng đối tượng; cộng đồng dân cư, cá nhân được hỗ trợ phải sử dụng đất theo quy định pháp luật.
4. Trong quá trình lập phương án hỗ trợ đất đai phải sắp xếp thứ tự ưu tiên hỗ trợ cho các cá nhân không có đất ở, đất sản xuất trước, sau đó mới xem xét đến việc hỗ trợ cho các cá nhân thiếu đất ở, đất sản xuất. Tùy từng trường hợp cụ thể và quỹ đất hiện có của địa phương để xem xét diện tích hỗ trợ cho một hộ gia đình không vượt quá hạn mức theo quy định hiện hành của tỉnh và Luật Đất đai.
5. Trong quá trình thực hiện chính sách nếu có văn bản khác quy định trùng với nội dung của chính sách tại nghị quyết này thì đối tượng chỉ được thụ hưởng một chính sách với mức hỗ trợ cao nhất.